Saturday, July 2, 2011

Cần sớm thoát khỏi sự lệ thuộc về kinh tế

[TVN] Đang lúc chúng ta phải đối phó với những âm mưu của Trung Quốc trên biển Đông qua các hành vi bắt giữ tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, xâm phạm chủ quyền lãnh hải nước ta và những đòi hỏi vô lý trong tranh chấp, thì cũng đừng quên một áp lực khác mà chúng ta đang phải gánh chịu, đó là sự lệ thuộc quá nhiều trong làm ăn với Trung Quốc.

Biểu hiện cụ thể là tình hình nhập siêu ngày càng nặng nề với nước láng giềng này đang là bài toán khó.

Nhập siêu của Việt Nam và Trung Quốc đã tăng liên tục kể từ khi hiệp định tự do mậu dịch ASEAN-Trung Quốc có hiệu lực ngày 1/7/2005. Những năm gần đây mức nhập siêu này đã tăng rất nhanh từ 2,67 tỉ USD năm 2005 vọt lên tới 12,7 tỉ USD năm 2010, tức là gần gấp năm lần. Con số này khiến chúng ta bức xúc hơn khi 10 năm trước, tức vào năm 2000, thặng dư thương mại của Việt Nam với Trung Quốc là 130 triệu USD.

Theo các số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, chỉ trong năm tháng đầu năm 2011 mức nhập siêu của Việt Nam đã lên tới khoảng 6,5 tỉ USD mà trong đó phần lớn vẫn là nhập siêu từ Trung Quốc (nhưng đáng tiếc là không thấy cơ quan này công bố số liệu cụ thể).

Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) trong một báo cáo công bố gần đây đã cho rằng, mức độ thâm nhập kinh tế của Trung Quốc vào nước ta đang ngày càng tăng trong đa số các sản phẩm, từ máy móc, thiết bị đến hàng tiêu dùng. Theo đó các ngành sản xuất Trung Quốc thâm nhập nhiều nhất hiện nay tập trung vào một số lĩnh vực như điện lực, dầu khí, cơ khí, luyện kim, khai khoáng, hóa chất.

Góp phần lớn nhất vào tình hình này xuất phát từ hàng loạt gói thầu các công ty Trung Quốc giành được với rất nhiều hợp đồng EPC (Engineering, procurement and construction - Thiết kế, mua sắm và xây dựng). Loại hợp đồng nói trên thường được thực hiện trong lĩnh vực xây dựng các nhà máy điện (của Tập đoàn Điện lực VN), mỏ (như bauxit Tân Rai, Nhân Cơ, đồng của Tập đoàn Than Khoáng sản VN-TKV), hóa chất (phân đạm Hà Bắc), giao thông (như xây dựng, cải tạo đường sá ở TP. Hồ Chí Minh, đường sắt trên cao ở Hà Nội)..., qua đó các công ty Trung Quốc nhập từ máy móc, thiết bị, vật liệu, đến sắt thép và thậm chí cả nhân công vào VN. Điều này càng bộc lộ sự yếu kém của các tập đoàn kinh tế nhà nước trong vai trò chủ đạo nhưng thường buông bỏ trận địa chính mà đầu tư vào lĩnh vực ngoài ngành nghề.

Theo phân tích của VEPR thì chính sách thương mại và công nghiệp của Việt Nam chưa phát huy được tác dụng trước làn sóng hàng Trung Quốc đa dạng và giá rẻ. Việt Nam cũng thiếu vắng những hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc lại biết tận dụng lợi thế của các thỏa thuận thương mại khu vực.

Trong khi đó, hàng hóa của Việt Nam không có khả năng cạnh tranh về giá cả lẫn chất lượng nên khó thâm nhập thị trường Trung Quốc. Lâu nay, nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc là khoáng sản và nông lâm thủy sản với số lượng nhỏ, giá cả bấp bênh và tình hình này hiện vẫn chưa có gì thay đổi.

Có thể thấy nguyên nhân sâu xa của căn bệnh nhập siêu lớn với Trung Quốc là từ chính sách phát triển và cơ cấu nền kinh tế, cho nên việc giảm nhập siêu với Trung Quốc là vấn đề nan giải mà chủ yếu vẫn là phải sớm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, cải tổ hoạt động của khu vực quốc doanh nói riêng để nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.

Bài toán nhập siêu từ Trung Quốc, theo tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Giám đốc VEPR, cần có các giải pháp đồng bộ không chỉ về chính sách thương mại mà cả về chính sách đầu tư, chính sách công nghiệp trong cơ chế chọn nhà thầu.

Ai cũng biết nhập khẩu công nghệ, thiết bị là nhằm phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng. Muốn thỏa mãn yêu cầu này thì chúng ta phải nhập khẩu đủ lượng nguyên phụ liệu sản xuất tương ứng. Và trong việc nhập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất thì Việt Nam nhập nhiều từ Trung Quốc vì giá cả, chất lượng nguyên liệu của Trung Quốc tương đối hợp lý, chưa kể Trung Quốc cũng là thị trường gần, chi phí vận tải thấp. Thế nhưng thực tế cho thấy, nhập siêu từ nước láng giềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhập siêu của Việt Nam đã đến mức báo động.

Trong năm nhóm hàng mà Việt Nam nhập nhiều nhất gồm thiết bị máy móc phụ tùng, xăng dầu, sắt thép, phân bón, nguyên phụ liệu dệt may thì Trung Quốc đều có tên ở năm vị trí đầu. Các số liệu thống kê cho thấy, trong năm 2010 chúng ta nhập từ Trung Quốc tới 56% sắt thép, 40% phân bón, 70% nguyên phụ liệu dệt may, 37% vải, 17,7% xăng dầu, 27% phụ tùng, máy móc, thiết bị, 28% máy tính, linh kiện...

Nếu nguồn cung này biến động theo chiều hướng xấu thì ngay lập tức không chỉ thị trường nội địa mà cả kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Mỹ và EU cũng sẽ bị ảnh hưởng.




Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010 Việt Nam nhập từ Trung Quốc 20,02 tỉ USD hàng hóa, trong đó các mặt hàng chính gồm: máy móc thiết bị, phụ tùng (22,37%); bông, vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may, da giày (15,64%); sắt thép, sản phẩm từ sắt thép, kim loại (11,39%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (8,41%); xăng dầu, khí hóa lỏng, sản phẩm từ dầu mỏ (6,97%); hóa chất, sản phẩm hóa chất (4,56%); chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm (2,9%); phân bón, thuốc trừ sâu (2,25%).
Nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm để tiêu thụ hay sản xuất các mặt hàng tiêu thụ trong nước (thay thế hàng nhập khẩu) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (điện tử, máy tính, xăng, phân bón, thuốc trừ sâu).


Rõ ràng danh mục hàng hóa mà Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc ngày càng trở nên nhạy cảm hơn và có mối ràng buộc sâu sắc tới huyết mạch của kinh tế.

Báo chí trong nước trích lời tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Việt Nam đóng vai trò chuyên trách cung cấp nguyên, nhiên liệu và nông sản thô cho Trung Quốc, còn Trung Quốc thì xuất khẩu sản phẩm công nghiệp công nghệ thấp và trung bình cho Việt Nam với khối lượng lớn vượt trội.

Với cục diện như vậy, nếu không có sự quyết liệt và cải cách chiến lược xuất nhập khẩu sớm, chúng ta không những lún sâu vào nhập siêu với Trung Quốc mà còn phải trả giá đắt nếu nhập siêu đó là không an toàn, không chất lượng.

Để giảm nhập siêu từ Trung Quốc trong thời gian tới, ý kiến được đưa ra trong nhiều cuộc hội thảo cho rằng có hai hướng giải pháp cần thiết. Thứ nhất, phải tăng cường xuất khẩu với tốc độ xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng của nhập khẩu để dần thu hẹp nhập siêu. Thứ hai, cần phải đẩy mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ và sản xuất nguyên liệu hỗ trợ. Bộ Công Thương vừa trình Chính phủ phê duyệt đề án khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó, Việt Nam kêu gọi các doanh nghiệp ở nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản... đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Nhưng quan trọng hơn cả là Chính phủ cần có chủ trương ở tầm vĩ mô trong bối cảnh địa chính trị hiện nay để đưa nền kinh tế giảm bớt sự lệ thuộc vào người láng giềng phương Bắc. Kinh nghiệm của nhiều nước đã và đang lệ thuộc từ đồng vốn đến kỹ thuật của Trung Quốc là bài học đáng cho chúng ta suy ngẫm. Sẽ khó khăn giữ được độc lập về chính trị khi không có được độc lập về kinh tế. Chính vì vậy việc sớm thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế phải được đặt ra ngay từ bây giờ, dù quá muộn còn hơn không. Tác giả: PHẠM THÀNH SƠN



- Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
- Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng lên 13,4%.
- Năm 2008 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 19,8% tổng kim ngạch.
- Năm 2009 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng lên 25%.
- Năm 2010, Việt Nam chi 19,1 tỉ USD để mua hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, trong khi xuất khẩu đối ứng 6,4 tỉ USD.
- Năm 2000, Việt Nam đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc 135 triệu USD.
- Năm 2001, thâm hụt trong cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc 200 triệu USD.
- Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỉ USD.
- Năm 2008, con số này là 11,16 tỉ USD.
- Năm 2009, tăng lên 11,532 tỉ USD.
- Năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc lên đến 12,7 tỉ USD.
- Năm 2011 dự kiến tăng lên 17 tỉ USD.
Nguồn: Thống kê tổng hợp
* Biển Đông:
* Văn Hóa - Giáo Dục:
* Kinh Tế - Chính Sách:
* Tin khác:

Why China has to Climb Down on the Spratlys Issue By: Walden Bello

[INQ] (The Chinese Government newspaper Global Times recently contacted the author for an email interview on the Spratly-West Philippine Sea controversy. After I submitted my answers, I received no acknowledgment or any further communication from the paper, possibly because the answers I gave were not to the newspaper’s liking. Under the principle of never allowing a good interview to go to waste, I am reprinting it as my column here.)

How do you view the current South China Sea crisis? Will it further escalate?

Yes, I am afraid tensions will increase and could get out of hand, and the fault does not lie with the Philippines and other Southeast Asian countries.

For the South China Sea issue, China has been always advocating the principle of putting aside disputes and going in for joint development, in your opinion, is it a proper way to solve the South China Sea dispute?

Joint development without clear delineation of borders is a recipe for future conflicts.

The appropriate way to solve the issue is through multilateral negotiations involving

all parties with claims to the area. The UNCLOS (United Nations Convention on the

Law of the Sea) established the principle of countries having 200-nautical-mile-

exclusive economic zones, and where these intersect and where there are disputed areas, multilateral negotiations are the only viable solution where there are several claimants. This is a very reasonable position. Yet China refuses this solution, and instead tries to resolve matters unilaterally by making incursions into the 200-nautical-mile-EEZs (Exclusive Economic Zones) of other countries, or building structures in those areas, as in some parts of the Spratly Islands that are in the EEZ of the Philippines. For instance, Mischief Reef (Panganiban Reef), which China occupied over Philippine objections, is well within the 200 mile EEZs of the Philippines and over 1,000 miles from the Chinese coast. Moreover, China has formally staked a claim to the whole Sea, right down to the 24 nautical mile contiguous zones or 12-nautical mile-territorial limits of other countries in the area, completely disregarding the others’ EEZs and the fact that the waters and islands China is claiming are several hundred or even a thousand or more nautical miles beyond territorial border. This is Big Power behavior, and here China is unfortunately emulating the example of the European colonizers and the United States.

Some predict that a war in South China Sea is inevitable, do you agree?

No, I do not think so, although naval encounters, such as the tragic encounter in 1988 between China and Vietnam, where about 70 Vietnamese sailors died, are a possibility. China must really climb down from its aggressive posture, otherwise, a chain of events may ensue that goes out of control. Remember, World War I was an unintended war, one that nobody wanted, but once the mutual military mobilizations began, it was impossible to bring things under control. Multilateral diplomacy for a comprehensive settlement of the West Philippine Sea issue is the best way to avoid such an unintended conflict

China has developed closer economic ties with many countries in Southeast Asia including the Philippines and maintained good relations with these countries, to what extent will the South China Sea dispute affect the relations between China and the Philippine?

These economic ties could sour if the Southeast Asian countries perceive that China is beginning to behave like an arrogant military hegemon. Countries might become more worried that China’s military – or the threat of its use – might be employed to protect or push Chinese investments and other economic interests in their territories and begin to impose investment and trade restrictions on Chinese capital and trade inflows. As China becomes more dependent on agricultural land in Southeast Asia to produce food for its population and on Southeast Asia’s resources to feed its industries, our countries will worry about signs of Chinese military hegemony. People remember that Japan resorted to force to gain control of Southeast Asia’s land and resources 70 years ago. They remember that Japanese traders, investors, and settlers started coming into the different countries of the region years before the Japanese military came. Of course, China is not imperial Japan, but you can’t blame people in Southeast Asia if they get worried by signs of military hegemony exhibited by another Northeast Asian power.

How do you see the US’ role in the South China Sea dispute? And how will the US affect the dispute?

All countries that are signatories to UNCLOS are committed to protecting freedom of navigation in the world’s main waterways, such as the West Philippine Sea. The Philippines must rely on ASEAN (Association of Southeast Asian Nations) as its key ally in resolving the West Philippine Sea issue with China. I do not agree with the Philippine and Vietnamese strategy to draw the US in as a first resort. Bringing in the US carries the danger of converting the crisis into a conflict between superpowers. However, I really can’t blame these governments for taking this course of action. I blame China’s aggressive behavior. The best way to avoid the intervention of the US in the West Philippine Sea’s territorial disputes is for China to stop its aggressive behavior and come to the diplomatic table. A diplomatic solution that avoids US military intervention is in the best interest of both China and the Philippines.

Will the South China Sea be a long-term headache for the involved countries and for the security of Asia-Pacific region? What is the breakthrough point to solve the problem?

Yes, it will be a long-term headache if we do not resolve the issue via multilateral diplomacy soon. A demilitarized West Philippine Sea where borders are agreed upon, in the same way that the Gulf of Tonkin and Vietnam-China land borders were settled by Vietnam and China is the best guarantee of peace in the region. If China could settle these borders peacefully with Vietnam, why can’t it do the same thing in multilateral discussions with the countries bordering the West Philippine Sea?

*INQUIRER.net columnist Walden Bello is a representative of Akbayan Party in the House of He authored House Bill 1350, which proposed renaming the South China Sea the West Philippine Sea, a proposal that was eventually accepted by the Philippine executive branch. He can be reached at waldenbello@yahoo.com.
Other Articles:

Chống lạm phát, châu Á tiến thoái lưỡng nan

picture[VnEc] Tăng trưởng sản xuất công nghiệp của nhiều nền kinh tế châu Á, từ Trung Quốc tới Hàn Quốc, đang giảm tốc, “làm khó” các ngân hàng trung ương trong việc tăng lãi suất để chống lạm phát, hãng tin tài chính Bloomberg cho biết.

Theo số liệu mới nhất công bố ngày 1/7 này, chỉ số quản lý sức mua (PMI) - thước đo của Liên đoàn Hậu cần và mua hàng Trung Quốc về tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp nước này - đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2/2009. 

Tương tự, tại Ấn Độ, chỉ số đo lường do HSBC thực hiện cũng cho thấy sản xuất công nghiệp đã tăng trưởng với tốc độ thấp nhất trong 9 tháng. Tại Hàn Quốc, xuất khẩu đang tăng với tốc độ chậm nhất trong ít nhất 20 tháng trở lại đây, với mức tăng 14,5% trong tháng 6, so với 22,4% trong tháng 5.

Cuộc khủng hoảng nợ của khu vực châu Âu và sự giảm tốc tăng trưởng kinh tế tại Mỹ đang làm suy giảm nhu cầu của các thị trường này đối với hàng hóa châu Á, theo đó gây áp lực buộc các nhà hoạch định chính sách châu Á phải trì hoãn việc tăng lãi suất, cho dù giá cả vẫn tăng lên. 

Ở Trung Quốc, lạm phát đã đạt mức cao nhất kể từ năm 2008. Tại Ấn Độ, lạm phát tiếp tục là nguyên nhân dẫn tới những cuộc biểu tình rầm rộ của dân chúng, cho dù Chính phủ đã nỗ lực chống tăng giá bằng 10 lần tăng lãi suất kể từ tháng 3/2010.

Theo chuyên gia về kinh tế châu Á Frederic Neumann thuộc ngân hàng HSBC tại Hồng Kông, sự giảm tốc tăng trưởng đang diễn ra có thể sẽ làm giảm bớt những áp lực tăng giá, nhưng “một rủi ro lớn đối với châu Á là lạm phát khó đẩy lui hơn dự báo, và điều này sẽ gây ra khó khăn cho việc điều chỉnh chính sách”.

Thời gian qua, áp lực lạm phát đã buộc các ngân hàng trung ương tại châu Á nhanh chân trong việc rút lui khỏi các biện pháp kích thích tăng trưởng bằng tiền tệ áp dụng trong thời kỳ khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. 

Tháng trước, Hàn Quốc, Thái Lan và vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) cùng tăng lãi suất cơ bản để chống tăng giá, còn Trung Quốc thì yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đến nay, sự yếu kém của kinh tế Mỹ và châu Âu không cho phép việc tăng lãi suất diễn ra dễ dàng như vậy nữa.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) đã không tăng lãi suất cơ bản trong suốt 12 tuần qua, đánh dấu quãng thời gian trì hoãn dài nhất kể từ tháng 10 năm ngoái tới nay. Trong khi đó, lạm phát tại nước này trong tháng 5 đã lên tới 5,5%, vượt xa mục tiêu 4% của Bắc Kinh.

Tại Hàn Quốc, tốc độ tăng giá tính đến tháng 6 vừa qua đã vượt mục tiêu của Ngân hàng Trung ương tháng thứ 6 liên tục, với mức tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 5, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nước này tăng 4,1%. Bộ Tài chính Hàn Quốc ngày 30/6 đã cắt giảm mức dự báo tăng trưởng GDP năm nay xuống còn 4,5% từ mức 5% đưa ra trong lần dự báo trước.

Lạm phát tháng 6 tại Thái Lan là 4,06%, gần mức cao nhất trong 32 tháng do ảnh hưởng của tăng giá lương thực-thực phẩm. Duy chỉ có ở Indonesia là lạm phát đang đi xuống, với giá cả giảm tháng thứ 5 liên tục tính đến tháng 6.

Tình thế tiến thoái lưỡng nan của các nhà hoạch định chính sách châu Á hiện nay là một bằng chứng cho thấy, châu Á vẫn phụ thuộc vào thị trường tiêu dùng Mỹ và châu Âu, cho dù nhóm G-20 đang nỗ lực tái cân bằng nền kinh tế toàn cầu bằng cách giảm bớt mối quan hệ này và tăng cường tận dụng nhu cầu tiêu thụ nội địa. Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các nền kinh tế châu Á chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu của thế giới, so với mức 25% cách đây một thập kỷ.

Theo chuyên gia Tai Hui, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu kinh tế Đông Nam Á thuộc ngân hàng Standard Chartered, nếu cuộc khủng hoảng nợ tại châu Âu leo thang, các quốc gia/vùng lãnh thổ châu Á bị ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ bao gồm Hồng Kông, Singapore, Việt Nam và Malaysia.

“Những nền kinh tế này có khả năng sẽ chịu ảnh hưởng mạnh nhất về mặt tăng trưởng do có sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu nói chung, đặc biệt là xuất khẩu sang châu Âu. Các nhà xuất khẩu của Trung Quốc và Ấn Độ cũng sẽ đối mặt thách thức lớn do có kim ngạch thương mại lớn với châu Âu”, ông Hui nói.


* Biển Đông:
* Văn Hóa - Giáo Dục:
* Kinh Tế - Chính Sách:
* Tin khác:

Friday, July 1, 2011

Banknotes and bribes: more arrests to come

[AGE] AUSTRALIA'S first foreign bribery prosecution will accuse two Reserve Bank currency firms and six of their former senior managers of funnelling multimillion-dollar bribes to government officials in Indonesia, Malaysia and Vietnam to win banknote deals.

Police in Australia, Asia and Europe are preparing to lay further criminal charges and expose corrupt foreign politicians after yesterday laying bribery charges against Securency and Note Printing Australia - plastic banknote design and printing firms that are respectively half and fully owned and overseen by the RBA.

An international corruption taskforce led by the Australian Federal Police is still working to uncover up to a further $25 million in suspected bribes paid by the RBA firms across Asia and Africa from 1999 up until 18 months ago.

The Reserve Bank scandal.

The AFP inquiry began after a report by The Age in May 2009 revealing Securency's payments to shady middlemen.

Greens leader Bob Brown has called for the nation's corporate watchdog to examine the conduct of the former boards of both companies - which include former RBA bosses and several corporate heavyweights - while Austrade, the federal government's trade agency, is likely to come under scrutiny over its involvement.

Those charged yesterday with bribery offences that carry penalties of up to 10 years' jail include former Securency chief executive Myles Curtis and former Note Printing Australia chief executive John Leckenby.

The charges relate to up to $10 million in bribes allegedly paid between 1999 and 2005.

Former Malaysian central bank assistant governor Mohamad Daud Dol Moin is facing up to 20 years' jail after he was charged yesterday for taking kickbacks from the RBA firms' middleman, arms dealer Abdul Kayum, in Kuala Lumpur in late 2004 and early 2005.

Federal Police Commander Chris McDevitt described the charges as historic and warned that more arrests would be made. He stressed that the case should send ''a very clear message to corporate Australia'' about avoiding bribery overseas.

Commander McDevitt said the charging of the companies was based on allegations that the firms' ''mind and will'' was directed towards bribery and the firms corruptly obtained contracts.

RBA governor Glenn Stevens yesterday expressed regret at the central bank's failure to detect the allegedly corrupt practices at its subsidiaries. ''The Reserve Bank deeply regrets that the governance arrangements and processes in the companies at that time were not able to prevent or detect the alleged behaviour that has led to today's charges,'' he said.

Curtis, Securency's chief executive from 1996 to 2010, is facing three conspiracy to bribe charges in relation to deals done in Indonesia, Vietnam and Malaysia.

Leckenby, NPA chief from 1994 to 2004, is facing two charges in relation to alleged kickbacks in Indonesia and Malaysia.

Former Securency chief financial officer Mitchell Anderson is facing two counts of bribery. Those facing a single charge are former NPA chief financial officer Peter Hutchinson, former Securency Asian sales chief Ron Marchant and former NPA sales manager Barry Brady.

Those named in court documents as co-conspirators, but who are not yet charged, are former NPA sales executive Christian Boillot, Securency's international marketing boss, Hugh Brown, and its Asian middlemen Radius Christanto and Abdul Kayum.

Between 1999 and 2005, both RBA firms were chaired by former Reserve deputy governor Graeme Thompson, who is also a former chief of corporate watchdog, APRA.

Commander McDevitt said there was no evidence to suggest individual board members were aware of or involved in the alleged bribes. He would not be drawn on whether the directors of Securency and NPA had appropriately fulfilled their duties to supervise the companies. The directors sitting beneath Mr Thompson on the NPA board during this period were former RBA assistant governor Leslie Austin, corporate heavyweight and federal government adviser Dick Warburton, who is also a former RBA board member, and former Liberal Party treasurer Mark Bethwaite.

Mr Thompson, Mr Austin - who resigned from the board just last month - and decorated British businessman Bill Lowther are among the directors who oversaw Securency in the period of the alleged offences.

The alleged kickback recipients include:
  • Former Indonesian central bank currency chief Herman Joseph Susmanto and his deputy, Mardiyo, who allegedly received from Securency and NPA a large cut of the $US4.9 million the firms funnelled via their Jakarta middleman, Radius Christanto.

  • Former Vietnam State Bank governor Le Duc Thuy, who remains one of his country's most powerful officials and whom Securency allegedly bribed in 2003 by paying for his son's fees at Durham University in Britain.

  • Several senior Malaysian officials, who allegedly received kickbacks from Securency and NPA via some of the $4.2 million the RBA firms paid Mr Kayum.

The use of overseas middlemen by Securency and NPA and the decision to pay them huge commissions into offshore accounts was approved by both company boards. Last November, Mr Stevens told a parliamentary committee he had seen no evidence that ''the directors that we appointed or the chairman that we appointed have acted improperly at any time''.

Mr Stevens said yesterday the RBA had now stopped both firms from using overseas agents to win banknote supply and printing contracts with foreign central banks. It has made several changes to both companies' boards.

The scandal creates major headaches for the federal government, which has refused repeated calls for a broader inquiry into the role of government officials.

Austrade officials and consultants played a key role in creating and vetting several of the overseas middleman arrangements, which are now alleged to have involved corrupt payments.

The Federal Police inquiry, which started as a small probe in May 2009 and grew to an international investigation run in conjunction with Britain's Serious Fraud Office, was started as a direct result of revelations in The Age, a point acknowledged yesterday by Commander McDevitt.

Information uncovered by The Age has been used by police to further the investigation.

Indonesian and Malaysian authorities are believed to have reluctantly agreed to co-operate in the international probe, although Vietnam has refused to assist.

The six Victorians charged were released on bail and will reappear in the Melbourne Magistrates Court in September. By Nick McKenzie and Richard Baker
Other Articles:

Biển Đông: Giành thời cơ, thoát hiểm hoạ

[TVN] Bài phân tích của TS Lê Hồng Nhật (ĐHQG, TP.HCM) là một góc nhìn sâu về bản chất xung đột chủ quyền ở Biển Đông, cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương mà Trung Quốc đang tiến hành, đồng thời kiến nghị những lựa chọn chính sách cho Việt Nam.
Kể từ số này, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả như một góc nhìn cần tham khảo. Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, không đại diện cho nơi tác giả đang làm việc.

Bài 1: Bản chất của xung đột chủ quyền tại Biển Đông

Vấn đề Biển Đông

Chuỗi các tranh chấp về chủ quyền gần đây giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines ngay tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước này khiến cho dư luận lo ngại nguy cơ chạy đua vũ trang, gây mất ổn định khu vực, và nêu ra sự cần thiết có cơ chế an ninh khu vực đủ hiệu quả để ngăn chặn nguy cơ này.


Theo tôi, nguy cơ chạy đua vũ trang của các nước nhỏ trong vùng quanh Biển Đông sẽ không phải là xu thế chủ đạo. Xu thế chính sẽ là việc Trung Quốc sử dụng sự vượt trội về sức mạnh mềm và kinh tế để chèn ép (holdup) từng nước nhỏ trong quan hệ song phương, nhằm thiết lập dần chủ quyền trên thực tế (de facto control righs) của mình tại các vùng biển đảo thuộc chủ quyền của các quốc gia khác. Nhờ đó, tạo nên sự "trỗi dậy hoà bình" thực sự, mà không tốn một phát súng.

Nếu vậy, sẽ khó có một cơ chế an ninh hay tuyên bố chung nào giữa Trung Quốc và các nước Asean, như Nguyên tắc ứng xử Biển Đông (COC), có thể làm đảo ngược được xu thế đã, đang và sẽ diễn ra này. Mặt khác, xu thế đó sẽ dễ làm bùng nổ một cuộc xung đột quân sự song phương, leo thang thành xung đột khu vực, mà không được tiên liệu trước bởi bất cứ bên nào. Một khi xung đột khu vực đã nổ ra thì sẽ không có lợi cho bất kỳ ai, kể cả Trung Quốc.

Một cơ chế an ninh quốc tế, có tính đa phương, lồng trong khuôn khổ quan hệ chủ quyền có tính song phương, là giải pháp duy nhất để ngăn chặn nguy cơ nói trên, vì sự ổn định, thịnh vượng của khu vực và trật tự quốc tế.

Bản chất của xung đột chủ quyền tại Biển Đông

Nếu chúng ta nhìn vào bản đồ phân chia quyền về lãnh hải của từng quốc gia trên Biển Đông, thì chủ quyền biển của từng quốc gia và trật tự hàng hải quốc tế đã được phân định rõ theo công ước của Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS 1982). Vậy tại sao Trung Quốc lại ngang nhiên đưa ra đường lưỡi bò "liếm trọn" Biển Đông - điều mà chỉ có thể xảy ra, nếu bánh xe lịch sử bị quay ngược trở lại trước thế chiến thứ hai, khi Việt Nam, Philippines và các nước quanh Biển Đông chưa được công nhận là các quốc gia độc lập, khi dân tộc Việt Nam, Philipines và các dân tộc khác chưa có quyền được hưởng tự do và độc lập?

Nói như vậy để thấy rằng, chủ quyền của một quốc gia (sovereignty) phải được hiểu theo cả hai nghĩa: (1) Theo sự công nhận của cộng đồng quốc tế, và đi kèm theo đó là các công ước quốc tế về chủ quyền. (2) Theo khả năng của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền của quốc gia, mà cơ bản nhất là đảm bảo an ninh quốc phòng; bảo vệ quyền của người dân khai thác tài nguyên và sinh sống trên nơi mà cha ông họ đã sinh sống qua ngàn đời, dù là trên đất liền, hay trên biển đảo.

Khi áp dụng cách hiểu này về vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia vào vấn đề bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế, thì các cường quốc như Mỹ, Nhật, phải đóng vai trò "siêu nhà nước". Họ đảm bảo quyền tự do lưu thông và an ninh trên vùng biển quốc tế. Nói khác đi, họ cung cấp các hàng hoá công có tính quốc tế này. Trong một số hoàn cảnh đặc biệt, như việc chống nạn cướp biển tại Somalia, sự hợp tác giữa nhiều quốc gia lớn nhằm đảm bảo an toàn hàng hải quốc tế cũng là một giải pháp.

Nếu tại một quốc gia, chi phí cho sự đảm bảo an ninh chủ quyền biển được tài trợ thông qua thuế thì vai trò đảm bảo an ninh và trật tự quốc tế về biển của các siêu cường được tài trợ bởi lợi ích có được từ tự do lưu thông hàng hải và mậu dịch quốc tế và hợp tác khai thác tài nguyên biển như dầu lửa, nguồn đánh bắt cá, với sự đồng thuận của quốc gia sở tại, có chủ quyền.

Như vậy, nhìn theo quan điểm quốc tế, chủ quyền về khai thác tài nguyên biển (dầu lửa, đánh bắt cá) trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi quốc gia là một dạng hàng hoá tư, thuộc quyền sở hữu quốc gia, được công ước quốc tế công nhận, và được làm cho có hiệu lực bởi vai trò bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của nhà nước của quốc gia đó.

An toàn và tự do lưu thông trên đường hàng hải quốc tế, mặt khác, lại là hàng hoá công, vì việc tàu bè của một nước được đi lại tự do và được bảo vệ an toàn trên đường biển quốc tế không loại trừ tàu bè của nước khác cũng được hưởng quyền và dịch vụ như vậy. Điều này rõ ràng là khác với quyền đánh bắt cá và khai thác dầu trên thềm lục địa của một quốc gia độc lập, theo nghĩa, một quốc gia khác, dù lớn mạnh đến đâu, cũng không được quyền xâm phạm nguồn tài nguyên thuộc đặc quyền kinh tế của quốc gia có chủ quyền, cho dù quốc gia đó có thể nhỏ và yếu hơn họ nhiều lần.

Tính loại trừ sự xâm lấn hay tính chủ quyền thiêng liêng này, như đã nói, là chuẩn mực được cả cộng đồng thế giới công nhận; nhưng nó cũng cần phải được bảo vệ bởi chính nhà nước có chủ quyền. Ngược lại, một quốc gia lớn, dùng sức mạnh, dù là quyền lực mềm hay cứng, để xâm phạm chủ quyền của một nước nhỏ, thì sự chiếm đoạt đó không bao giờ có thể làm nền tảng cho chủ quyền dưới tên gọi của quốc gia đi xâm chiếm đó, như lịch sử đã nhiều lần chứng minh.

Xung đột chủ quyền Biển Đông không chỉ là vấn đề song phương

Như vậy, chủ quyền quốc gia không phải là một khái niệm biệt lập. Với sự bất cân xứng vốn có về sức mạnh kinh tế và quân sự giữa các quốc gia có chủ quyền thì các quan hệ kinh tế, chính trị và quân sự giữa các quốc gia lớn và nhỏ, chia sẻ cùng một lợi ích chiến lược phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế sẽ tạo ra khối liên minh chính thức hay phi chính thức. Sức mạnh của liên minh tạo ra một sự răn đe hữu hiệu đối với sự xâm lấn dưới tên của bất kỳ quốc gia lớn hơn nào với một dân tộc có chủ quyền, nhưng yếu hơn về kinh tế và quân sự. Một khi liên minh bị suy yếu đi, thì sự cân bằng về trật tự quốc tế và khu vực bị thay đổi, do xuất hiện những vùng trống về quyền lực. Tuy nhiên, sự thay đổi về trật tự thế giới đó (và sự trỗi dậy của "người" bảo hộ cho trật tự mới đang hình thành) có trở thành một xu thế toàn cầu hay không, phụ thuộc rất nhiều vào tính chính nghĩa của tiến trình như vậy. Một khi tính phi nghĩa lấn át, mà cực điểm là chủ nghĩa phát xít, thì sớm hay muộn, tham vọng phi nghĩa đó sẽ bị diệt vong.

Những năm 2008 - 2010 chứng kiến cuộc khủng hoảng toàn cầu, bắt đầu từ Mỹ, lan dần sang các nước Tây Âu. Điều đó kéo theo hai hệ luỵ: thứ nhất, nước Mỹ, do áp lực nợ chồng chất sau hai cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq và Afghanistan và khủng hoảng kinh tế, đã bị yếu đi rất nhiều về khả năng triển khai sức mạnh cứng để duy trì trật tự quốc tế tại các vùng biển có tính chiến lược, nhưng sẽ quá tốn kém, nếu xung đột thực sự xảy ra. Vụ tàu Trung Quốc khiêu khích tàu USNS Impeccable trên vùng biển quốc tế gần quần đảo Hoàng Sa là một ví dụ. Thứ hai, sự suy yếu của kinh tế Mỹ sau khủng hoảng, cộng với sự trỗi dậy của Trung Quốc đã làm thay đổi các dòng thương mại, vốn đầu tư quốc tế theo hướng biến các nước thuộc vùng ngoại biên (periphery) xích lại gần hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào sức mạnh đồng tiền và quyền lực mềm của Trung Quốc. Nói khác đi, các liên minh hiện hữu bị yếu đi. Cùng với nó là khả năng bảo vệ chủ quyền của các quốc gia thành viên thuộc liên minh hay khối hợp tác như Apec hay Asean bị suy giảm.

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đứng trước hai lựa chọn: thứ nhất, phối hợp với các cường quốc trên thế giới, đứng đầu là Mỹ, cung cấp hàng hoá công cho việc duy trì trật tự quốc tế, sự ổn định và phát triển phồn thịnh dựa trên hợp tác và thương mại toàn cầu. Thứ hai, thay thế Mỹ và các đồng minh chiến lược của Mỹ là Tây Âu và Nhật, thiết lập trật tự thế giới mới và lập liên minh quân sự mới do Trung Quốc đứng đầu nhằm cưỡng chế sự tuân thủ trật tự mới đó (theo Unirule).

Trên thực tế, Trung Quốc đã lựa chọn con đường thứ hai. Tiến trình này bắt đầu bằng việc chà đạp lên công ước về phân chia lãnh hải trên Biển Đông (theo UNCLOS 1982), nhằm biến nó thành vùng biển thuộc Trung Quốc. Tham vọng này của Trung Quốc hoàn toàn không dễ dàng thực hiện được,vì rằng: (i) Nó xóa bỏ trên thực tế chủ quyền của các quốc gia quanh Biển Đông, đi ngược lại xu thế tiến bộ của thời đại về phong trào giành quyền độc lập cho các dân tộc, sau khi chủ nghĩa phátxít bị đánh bại. (ii) Về dài hạn, nó tạo tiền lệ cho việc chiếm đoạt quyền tự do lưu thông và an toàn hàng hải trên các tuyến đường biển quốc tế. Thay vào đó, các quốc gia khác (ngoài Trung Quốc) sẽ phải nộp phí, chịu phạt, hoặc bị cấm không được sử dụng các tuyến đường biển và đường không quốc tế, nay do Trung Quốc kiểm soát.

Điểm cốt lõi ở đây là có sự khác biệt rất rõ ràng giữa tuyến hàng hải quốc tế với tuyến hàng hải thuộc địa phận Trung Quốc. Khi nảy sinh mâu thuẫn chính trị hay xung đột về lợi ích, Trung Quốc có thể dùng quyền kiểm soát để cấm quốc gia có liên quan thông thương trên vùng Biển Đông, mặc dù về nguyên tắc, Trung Quốc cam kết duy trì tự do lưu thông.

Sự chèn ép ở quy mô quốc tế này không thể xảy ra, nếu Trung Quốc không thể áp đặt được quyền kiểm soát trên thực tế về vùng biển bị bao quanh bởi đường lưỡi bò.

Như vậy, xung đột chủ quyền tại Biển Đông hiện nay không phải chỉ là vấn đề song phương mà là vấn đề về an ninh khu vực và quốc tế. Trung Quốc hiểu rất rõ điều đó và Trung Quốc hiểu rằng Mỹ, Nhật, Tây Âu và các cường quốc khác trên thế giới như Nga, Ấn Độ cũng hiểu là Trung Quốc đang toan tính gì. Cuộc chơi chèn ép trên bình diện quốc tế này thể hiện tính phiêu lưu trong chiến lược mà Trung Quốc đang theo đuổi. Việc phân tích kỹ ván bài đó sẽ tạo nên sự đồng thuận quốc tế nhằm giải quyết xung đột, được Trung Quốc tô điểm thành xung đột song phương về chủ quyền "không thể tranh cãi", mà Trung Quốc là bên bị xâm hại. (còn nữa)
Tác giả: TS LÊ HỒNG NHẬT*
* Biển Đông:
* Văn Hóa - Giáo Dục:
* Kinh Tế - Chính Sách:

Deal of the day: Citi buys stake in Vietnamese brokerage

[FT] Vietnam’s 11-year-old stock market is some way from maturity, with daily market turnover of a mere $30m-$40m, trading dominated by rumour-driven retail investors and brokers frequently executing trades via Skype, Yahoo Chat and other unsecured internet messaging services.

But, in a sign of the market’s potential, Citigroup has become the latest international investment bank to tie-up with a local brokerage, agreeing to take a 9.9 per cent in Horizon Securities.

If all goes well, Citi plans to increase its investment and eventually take a controlling stake in the brokerage once Vietnam allows foreigners to become majority owners of broking firms from 2012, according to Brett Krause, Citi’s country officer for Vietnam.

A number of other international investment banks including Morgan Stanley, Macquarie and Daiwa Securities have already invested in or launched partnerships with local brokerages.

But interest from foreign investors in Vietnamese stocks has waned since the market collapsed in 2007 and 2008 as the economy overheated. Although valuations are among the lowest in Asia, poor governance standards, a lack of liquidity and the smell of burnt fingers have dissuaded all but the most hardy of investors from returning.

Local brokers and fund managers continue to hope that reforms to the trading rules, a clampdown on the more unscrupulous operators and the opening up of the market to foreign-owned brokers from next year will provide a much-needed push.

“International brokerages are looking at the eventual liberalisation of the market and the eventual pick-up in listings of state-owned companies and are thinking about their presence in Vietnam,” said one broker.

Citi’s Krause added:
“The market has gone sideways for two-and-a-half to three years. We think that as the macro-economy stabilises and the market continues to develop, there are a lot of things you can do.”

Horizon Securities, which is a subsidiary of a local boutique investment bank connected to Bridger Capital, a New York-based hedge fund, is a small player in a small game, with market share of less than 3 percent.

But Krause said Citi was attracted by its institutional client base.

Rival brokers added that while the pure broking business in Vietnam is small fry for a big bank like Citi, having a market presence will help it to originate more lucrative M&A and fund-raising deals in the future.

Few doubt that the stock market in Vietnam will grow over time. But given the wider macro-economic problems that Vietnam is facing and the growing frustrations over the slow pace of reform, this process is unlikely to be rapid.

Citi, which has had its on eye on the stock broking business in Vietnam for a while, is clearly hoping for an early-mover advantage.
Other Articles: