Monday, August 8, 2011

Dạy và học sử: Đâu chỉ là vấn đề giáo dục

[Marketing4u.vn] Lịch sử là một thứ vô cùng quý báu của mỗi dân tộc. Một thế hệ mà sự hiểu biết về lịch sử nước nhà được thể hiện bằng những con số 0 tròn trĩnh thì không khác nào con người sống mà không hề biết đến tổ tông, gốc tích của mình. Đây mới là điều đáng sợ nhất.

Người lớn xem thường lịch sử, trách gì học sinh?

Không một chút do dự khi trả lời trước báo chí, vị thuyền trưởng của con thuyền giáo dục nước nhà, ông Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng hàng ngàn điểm 0 môn Lịch sử trong đợt thi đại học vừa qua là "điều bình thường". Câu trả lời này đã khiến dư luận hết sức ngỡ ngàng. Tuy nhiên phát biểu của ông không phải hoàn toàn vô lý.

Quả là "bình thường" thật khi kết quả năm nay cũng tương tự như nhiều năm trước. Thực trạng này đã phản ánh đúng những gì dư luận và nhiều chuyên gia về giáo dục, lịch sử đã lên tiếng trong thời gian qua. Đó là đang tồn tại nhiều bất cập trong việc dạy và học môn Lịch sử trong chương trình phổ thông nói riêng và những cấp bậc khác nói chung.

Sự việc không dừng lại ở đó, môn Lịch sử đã bị xã hội 'ghẻ lạnh' trong một thời gian dài. Đã từ lâu, môn Lịch sử luôn được xem là môn phụ nên việc đầu tư cho quá trình dạy và học thường ít được chú trọng. Cả người dạy và người học luôn trong tâm lý đối phó. Thông thường chỉ có những năm môn Lịch sử được chọn là môn bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp THPT thì kết quả mới khả quan hơn.

Thực trạng việc dạy và học môn Lịch sử hiện nay đã quá chú tâm vào tính thuộc bài, theo kiểu học vẹt nhưng lại thiếu không gian tư duy. Ngoài ra, đề thi và gợi ý đáp án trong kỳ thi đại học năm nay lại quá cứng nhắc, chủ yếu xoay quanh khối lượng kiến thức lịch sử hiện đại với nhiều cương lĩnh, nghị quyết rất khó tiếp thu đối với một học sinh THPT nên kết quả thấp là điều khó tránh khỏi.

Ngoài ra, khi nhìn lại thực tế hiện nay, hàng loạt các công trình, di tích lịch sử đang bị đối xử một cách thô bạo. Nếu không bị đập phá thì cũng bị làm cho biến dạng dưới nhiều hình thức thông qua cái cánh mà người ta gọi là trùng tu di tích.

Không kể, một số nghi thức, lễ hội mang tính lịch sử, văn hóa đang được thương mại hóa hay biến tướng dưới nhiều hình thức mà báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực như trong thời gian qua. Chính những người làm công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử còn phạm quá nhiều sai lầm, thậm chí xem thường lịch sử đến vậy thì thử hỏi làm sao mà đào tạo một thế hệ biết... yêu quý lịch sử?

Người học lịch sử cốt yếu là để hiểu biết về nguồn gốc, về quá trình hình thành và phát triển của con người, xã hội, đất nước để từ đó có thể rút ra được bài học cho riêng mình. Đồng thời thông qua lịch sử, học sinh sẽ được giáo dục về tính tự tôn dân tộc, về tình yêu quê hương, đất nước. Nó không thể là môn học thuộc lòng những con số vô tri như ngày tháng, số lượng hay những trang cương lĩnh, nghị quyết chằng chịt chữ.

Nếu học lịch sử mà chỉ học về những chiến thắng hay thành công không thì chưa đủ mà người học cũng cần được trang bị kiến thức về những thất bại, và những bài học từ những thất bại ấy là gì, để có thể rút ra được kinh nghiệm nhằm tránh những sai lầm tương tự có thể xảy ra.

Trách nhiệm của toàn xã hội

Công bằng mà nói thì kết quả thi môn Lịch sử be bét như vừa qua là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của các ngành liên quan khác chứ không riêng gì của ngành giáo dục. Người học lịch sử có thể học ở bất kỳ đâu, từ các phương tiện sách báo cũng như phim ảnh.

Nếu những bài học khô khan gói gọn trong sách giáo khoa được hỗ trợ bằng những công cụ khác sinh động hơn thông qua các phương tiện giải trí như truyện hay phim thì có lẽ người học sẽ dễ tiếp thu, đồng thời cũng sẽ nhớ lâu hơn.

Nói về việc này, không thể không nhắc đến 1 điểm mà nhiều người đã rất đồng tình. Đó là hiện nay người Việt Nam ít hiểu biết về lịch sử Việt Nam nhưng lại thuộc làu làu lịch sử Trung Quốc.



Nếu học lịch sử mà chỉ học về những chiến thắng hay thành công không thì chưa đủ mà người học cũng cần được trang bị kiến thức về những thất bại, và những bài học từ những thất bại ấy là gì, để có thể rút ra được kinh nghiệm nhằm tránh những sai lầm tương tự có thể xảy ra.




Đây cũng là kết quả của một thời gian dài phim ảnh lịch sử Trung Quốc được trình chiếu dày đặc trên sóng truyền hình. Trung Quốc đã rất thành công trong việc quảng bá văn hóa, lịch sử của mình thông qua phương tiện giải trí là phim ảnh. Vậy tại sao Việt Nam mình lại không làm được điều này? Lịch sử Việt Nam cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, cũng gay cấn và hấp dẫn đâu thua kém gì lịch sử Trung Quốc?

Sẽ chẳng ai dám cho rằng học lịch sử là không hấp dẫn, đó là điều chắc chắn. Tuy nhiên lâu nay người học luôn bị đặt trong tư thế gượng ép với cách nhồi nhét xơ cứng. Môn Lịch sử cũng như môn Văn học, người học cần được khơi mào cảm hứng và để cho họ tự cảm nhận cái đúng, cái sai.

Lịch sử là một thứ vô cùng quý báu của mỗi dân tộc. Một thế hệ mà sự hiểu biết về lịch sử nước nhà được thể hiện bằng những con số 0 tròn trĩnh thì không khác nào con người sống mà không hề biết đến tổ tông, gốc tích của mình. Đây mới là điều đáng sợ nhất.

Lịch sử không chỉ bằng những con chữ khô khan trong sách giáo khoa mà nó còn là những mái đình cổ kính, những mảng rêu phong mang dấu tích thời gian. Học lịch sử không phải là cách đọc- chép vô hồn giữa thầy và trò, mà cần được tăng cường thêm sức lôi cuốn thông qua các phương tiện giải trí khác.Và quan trọng hơn là phải biết truyền cho học sinh tình yêu đối với lịch sử, với quê hương đất nước thì mới mong nhận lại sự đáp trả của người học. Đây cũng là sự đối xử công bằng, sự công bằng cần thiết như chính chúng ta đối xử với lịch sử vậy.
Theo TVN - Tác giả: TRẦN MINH QUÂN
Các bài khác:
  • [TVN] Dạy sử, "không thể nấu sỏi và nước lã thành súp" (Ngày xưa vua chúa phong kiến còn có quan chép sử được làm việc tương đối độc lập. Những gì họ chép, vua chúa thậm chí cũng không được biết, và họ chịu trách nhiệm với những gì họ viết ra. Có như vậy, những gì truyền cho hậu thế còn có thể gọi là sử. Sử khác với văn là văn được hư cấu còn sử thì không được phép. Nếu người đọc tài liệu lịch sử quay lưng, người học học đối phó thì những nhà làm sử và dạy sử cần phải xem lại chính mình trước khi phê phán học sinh.)

  • [ĐV] Giật mình với ngôn ngữ 'chợ búa' trong 'Tý quậy' (Thành viên balaxia (Vozforums) cho rằng ở ngoài đời sống, trẻ em bây giờ còn nói năng bạo mồm gấp… 10 lần. “Vào mấy quán nét coi mấy nhóc cấp 1 chửi nhau mà mình còn xanh mặt”, thành viên này cho biết) Đứng ở góc độ tiếp thị mà nói, SP bán được phải nói ngôn ngữ của người tiêu dùng, vậy thôi, trách gì bây giờ, nếu có trách thì trách hệ thống giáo dục - văn học chậm tiến!

  • [CAND] Văn học trẻ: Văn học không thể là món hàng giải trí (Tôi không hiểu mình có bi quan không khi nói rằng, tìm trong văn học trẻ những năm qua, chúng ta không thấy tác phẩm đỉnh cao, mà ngay cả những tác phẩm tử tế cũng không nhiều, dù mỗi ngày vẫn có những cuốn sách mới ra đời bởi cơ chế in ấn không thể dễ dàng hơn. Không chỉ tôi mà rất nhiều độc giả khi đứng trước quầy sách Văn học Việt Nam đều cảm thấy ngán ngẩm với toàn một "món" thỏa mãn những thị hiếu dễ dãi, kiểu như "Tự sự váy ngắn", "Ký ức son môi", "Món hầm tình ái", "Chị ơi em yêu chị" … Nhìn vào những tên sách đó, liệu bạn có hy vọng tìm thấy tác phẩm đỉnh cao?) Người bên trong cũng ngán, huống chi người bên ngoài, vì thế mỗi người tự tìm kiếm những giá trị riêng cho mình, không ai có quyền dạy vẽ ai, rồi cuối cùng nó đi về đâu? Nó sẽ như ngày hôm nay mà ai cũng lên tiếng, phản đối,...! Về nguy cơ "văn học biểu diễn"

  • [ĐV] Cường 'Đôla' phủ nhận việc lấn sân ca hát (dẫn chứng cụ thể về mọi người sẽ đi tìm giá trị riêng, món ăn tinh thần riêng cho mình, rồi nhà nhà cùng làm ca sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ,...đến lồi sỉ!)

Sunday, August 7, 2011

Dự báo 10 xu hướng tiêu dùng mới tại Việt Nam

[Marketing4u.vn] Từ phát triển dân số




Ảnh: Sưu tầm internet
Hiện dân số Việt Nam đang đứng thứ 13 trên thế giới với 82 triệu người. Trong đó, 75% dân số ViệtNam sống ở nông thôn. Do đó, sự chuyển dịch dân cư vào các trung tâm đô thị lớn là tất yếu và sẽ ảnh hưởng quan trọng đến thói quen tiêu dùng tại Việt Nam trong những năm tới. Dự đoán năm 2020, dân số Việt Nam sẽ vượt qua Nhật Bản (nước đang có số dân giảm) và đứng thứ tư châu Á chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Tỷ lệ phát triển dân số sẽ mang lại một vài xu hướng tiêu dùng mới và những thay đổi trong vòng 10 năm tới. Trong đó, việc tăng mạnh lực lượng lao động (những người đưa ra quyết định tiêu thụ) và kiểu hộ gia đình nhỏ sẽ kích thích việc tiêu dùng. Nền kinh tế tiêu thụ sẽ trở thành một yếu tố lớn trong tổng quan kinh tế. Dự báo sự phát triển dân số và sự di dân vào đô thị sẽ đưa nền kinh tế tiêu dùng tại Việt Nam đạt đến những tầm cao mới.

Đến tầng lớp thu nhập cao

Trong vòng 10 năm tới, một tầng lớp mới có thu nhập cao (hiện chỉ khoảng gần 1% dân số) sẽ xuất hiện ở Việt Nam. Vào năm 2016, tầng lớp này sẽ chiếm ít nhất 10% trong tổng số dân. Tầng lớp mới được gọi là “Vinavalet” sẽ là lực lượng thúc đẩy sự tăng trưởng các mặt hàng xa xỉ phẩm, từ xe hơi BMW đến các ngôi nhà được thiết kế độc đáo và những chiếc đồng hồ sang trọng. Dự báo một tầng lớp tiêu thụ “Vinavalet” mới sẽ đẩy mạnh việc tiêu dùng, đặc biệt là các mặt hàng xa xỉ phẩm.


Mua ở đâu và khi nào

Hiện Việt Nam chỉ có 10 nhà bán lẻ hiện đại. Trong vòng 5 năm tới, con số này ít nhất sẽ tăng gấp đôi. Bởi các nhà đầu tư quốc tế và nội địa đã bắt đầu nhìn thấy tiềm năng của thương mại hiện đại ở Việt Nam (qua Thái Lan có thể thấy tương lai ngành bán lẻ của Việt Nam). Bên cạnh đó, ảnh hưởng của thương mại hiện đại cũng thể hiện qua việc người Việt Nam mua sắm như thế nào. Trước hết, tần số mua sắm sẽ giảm bớt vì ngày càng ít người tiêu dùng mua sắm hàng ngày ở các chợ và bắt đầu mua khối lượng lớn theo tuần. Thẻ tín dụng sẽ cho phép việc mua sắm tăng lên, bởi vì người tiêu dùng sẽ có thể dùng loại thẻ nhựa này thay vì phải đem theo nhiều tiền mặt. Dự báo, các đại lý thương mại hiện đại sẽ cách mạng hóa thói quen tiêu dùng bằng việc giảm tần số mua sắm và tăng giá trị mua sắm.



Nhu cầu về ăn uống

Một đất nước cách đây 10 năm không đặt ra những nhu cầu ăn uống cơ bản cho dân số của mình, nay đã quan tâm đến sức khỏe. Trong vòng 10 năm tới, người tiêu dùng Việt Nam sẽ còn quan tâm nhiều hơn nữa đến sức khoẻ, đến các thành phần và các nhãn hiệu với những “hàm lượng chất béo thấp” hoặc “hàm lượng cholesterol thấp”. Dự báo, thức ăn dinh dưỡng và sự đam mê luyện tập thể dục sẽ trở thành xu hướng trong vòng 10 năm tới tại Việt Nam.

Cạnh tranh FMCG

Việc cạnh tranh giữa các công ty sản xuất hàng tiêu dùng (FMCG) sẽ trở thành xu hướng chính. Với việc mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư mới, một loạt thay đổi sẽ ảnh hưởng đến giá cả và việc quản lý hàng hóa. Hiện hầu hết các công ty FMCG dựa vào đội ngũ bán hàng khu vực để bán và kiểm soát các luồng sản phẩm của họ. Như vậy, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các đại lý thương mại hiện đại. Các nhà sản xuất sẽ phải thay đổi cấu trúc để thích nghi với khách hàng mới với đảm bảo có đủ hàng hóa. Các nhãn hàng cá nhân cũng sẽ thúc đẩy sự cạnh tranh trong lĩnh vực này. Theo đó, việc quản lý chất lượng hàng hóa sẽ được nhà sản xuất tập trung chủ yếu. Tất cả yếu tố mới này đòi hỏi sự thay đổi trong phân phối, quản lý hàng hóa và tạo sự cạnh tranh về giá từ các nhà sản xuất và nhà bán lẻ. Dự báo, việc gia tăng cạnh tranh sẽ tạo quy trình tái cấu trúc và cuộc cạnh tranh về giá giữa nhà sản xuất và bán lẻ, sẽ đem lại thuận lợi cho người tiêu dùng Việt Nam.

Biến đổi từ cơ sở hạ tầng

Việt Nam đang trên đường trở thành con hổ châu Á với nhiều thay đổi từ sự phát triển cơ sở hạ tầng. Trong đó, những ngôi nhà 3 tầng được thay thế bằng những khu nhà cao tầng. Những chiếc xe bò được thay thế bằng xe buýt và hệ thống xe điện ngầm. Những đường cao tốc sẽ trở thành đường siêu tốc cho những chiếc xe hơi hiện đại nhất. Tất cả thay đổi này sẽ ảnh hưởng mạnh đến quảng cáo và mua sắm tiêu dùng. Việc phát triển cơ sở hạ tầng cũng mang đến xu hướng mới trong trang trí và sửa chữa nhà cửa, khi các trung tâm đô thị ngày càng trở nên đông đúc và không gian trở thành nhân tố chủ yếu trong cuộc sống thành thị. Đồng thời sự chú trọng vào các mặt hàng điện tử cũng có ý nghĩa quyết định đối với thành công trong tương lai của những mặt hàng dùng lâu bền như TV, tủ lạnh và máy tính. Dự báo, phát triển cơ sở hạ tầng sẽ mang lại sự bùng nổ trong mua sắm các vật dụng có giá cao như xe hơi, hàng điện tử và các phương tiện truyền thông.



Việt Nam - điểm đến du lịch

Ngành công nghiệp du lịch Việt Nam dù non trẻ nhưng đã đạt được sự phát triển trên 15%/năm trong những năm qua. Năm 2005, gần 4 triệu du khách đã đến Việt Nam. Do đó, nếu Thái Lan thu hút 20 triệu du khách mỗi năm trước khi xảy ra sóng thần. Thì Việt Nam không có lý do để không thể bắt đầu là điểm đến du lịch được yêu thích trong vòng 10 năm tới. Bên cạnh đó, ngành du lịch sẽ làm giàu toàn bộ đất nước, chứ không chỉ các trung tâm đô thị lớn. Du khách cũng sẽ mang theo văn hóa và ngôn ngữ của họ. Vì vậy ngành du lịch sẽ ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng qua các sản phẩm và dịch vụ từ nước ngoài. Qua đó, tạo nhiều việc làm cho người tiêu dùng tương lai của Việt Nam. Dự báo, du lịch sẽ đem nguồn lợi kinh tế lớn cho Việt Nam cũng như sẽ ảnh hưởng mạnh đến xu hướng tiêu dùng và xã hội.

Nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống

Người tiêu dùng Việt Nam hiện mua sắm cho nhu cầu cần thiết của cuộc sống trên nền tảng hàng tuần. Xu hướng này sẽ mang đến cho các công ty FMGC nhiều lợi nhuận hơn và việc mở rộng những dòng sản phẩm là các mặt hàng tiêu chuẩn sẽ trở nên cạnh tranh hơn vì vậy cũng sẽ có nhiều hàng hóa hơn. Riêng về giá cả chắc chắn sự cạnh tranh sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn. Dự báo, việc mở rộng các dòng sản phẩm và các sản phẩm đặc biệt sẽ thúc đẩy việc tiêu dùng.

Về sắc đẹp

Các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và chăm sóc cá nhân trước đây là lĩnh vực phụ nữ quan tâm. Xu hướng này vẫn tiếp tục. Nhưng nam giới sẽ tham gia vào cuộc cách mạng chăm sóc sắc đẹp. Cùng với sự tăng trưởng thị trường sản phẩm chăm sóc cá nhân ở Việt Nam, những cửa hàng chuyên về lĩnh vực này sẽ nhanh chóng xuất hiện. Bools & Watson sẽ là những tên thông thường ở Việt Namvào năm 2016. Các công ty bán hàng tận nhà, như Mary Kaye, cũng sẽ xuất hiện, gắn kết hơn người tiêu thụ với dịch vụ chăm sóc sắc đẹp trong và ngoài nhà. Dự báo, những sản phẩm chăm sóc cá nhân dành cho hai giới sẽ tiếp tục bùng nổ ở Việt Nam.



Và phân khúc tiêu dùng

Hiện tại phân khúc tiêu thụ ở Việt Nam vẫn chưa rõ nét (trừ số ít người tiêu dùng giàu có). Sự phân biệt giới tính và tuổi tác cũng chưa tạo nhiều sự phân khúc khác. Năm 2016, Việt Nam sẽ là một nước tràn ngập sự phân khúc tiêu dùng. Mặc dù của cải, giới tính và tuổi tác vẫn giữ vai trò quan trọng trong phân khúc tiêu thụ. Nhưng người tiêu dùng sẽ tiến đến sự phân khúc phức tạp hơn và tạo một thị trường đa dạng hơn nhiều. Điều này sẽ tác động đến sự phát triển quảng cáo, những giải pháp thị trường. Và trên hết là sự phát triển mạnh của sản phẩm và sự thúc đẩy tiêu thụ. Dự báo, sự phân khúc tiêu dùng đưa chi phí quảng cáo tại Việt Nam đến những tầm cao mới. 
Theo Thanhnien

Saturday, August 6, 2011

Ổn định tỷ giá: Bài toán vẫn đang có nhiều ẩn số




Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
[Vn+] Có luồng ý kiến cho rằng, tỷ giá sẽ tiếp tục ổn định vào thời điểm cuối năm, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng, khó có thể khẳng định tỷ giá cuối năm sẽ ổn định và tỷ giá cuối năm sẽ như thế nào, đây vẫn còn là một ẩn số tiềm ẩn những bất ổn.

USD tự do tăng mạnh

Mặc dù, tính đến ngày 6/8/2011, tỷ giá bình quân liên ngân hàng dừng ở 20.608 VND/USD và vẫn trong xu thế giảm ở mức thấp nhất trong gần nửa năm nay.

Tuy nhiên, ở góc độ thị trường, dấu hiệu tăng giá của các ngân hàng thương mại đã bắt đầu từ trưa 5/8 khi ba ngân hàng lớn là Vietcombank, Eximbank và BIDV đã đồng loạt tăng giá mua-bán USD từ 20-40 đồng/USD.

Đến sáng 6/8, các ngân hàng thương mại khác cũng đồng loạt tăng giá USD mua vào-bán ra.

Hôm nay là ngày biến động mạnh nhất của tỷ giá USD sau một thời gian ổn định ở mức thấp.

Giá USD của Vietcombank niêm yết mức giá mua-bán ở 20.580-20.660 đồng/USD, tăng 10 đồng so với sáng 5/8.

Eximbank niêm yết mức giá mua-bán ở 20.550-20.625 đồng/USD, tăng 10 đồng chiều mua vào và 15 đồng chiều bán ra.

BIDV giao dịch mua-bán ở mức giá 20.570-20.660 đồng/USD, tăng 20 đồng chiều mua vào và 40 đồng chiều bán ra.

Các ngân hàng khác như VietinBank, Sacombank, VIB cũng đồng lại tăng giá bán ra từ 20-40 đồng/USD.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến ngày 20/7, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào được 4,8 tỷ USD. Tuy nhiên, trong bối cảnh kiều hối, vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài cùng suy giảm, thâm hụt thương mại vẫn đứng ở mức cao thì áp lực ngoại tệ lên thị trường vẫn rất lớn.

Cụ thể, lượng kiều hối đã giảm từ mức 2,4 tỷ USD trong quý I/2011 xuống còn 1,9 tỷ USD trong quý II; vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài 7 tháng qua chỉ đạt 0,66 tỷ USD, so với cùng kỳ năm 2010 là 1,79 tỷ USD.

Nhiều lo ngại khác áp lực lên tỷ giá

Chênh lệch lãi suất cho vay giữa VND và USD quá lớn, khiến doanh nghiệp đổ xô vay USD. Một số chuyên gia lo ngại tình trạng mât cân đối cung-cầu USD tại các ngân hàng vào dịp cuối năm.

Điều này cũng được thể hiện trong báo cáo 7 tháng của Ngân hàng Nhà nước, tính đến 20/7, tín dụng bằng ngoại tệ tăng 1,96% so với tháng 6, trong khi cho vay bằng đồng Việt Nam giảm 0,88%.

Nhu cầu cho vay USD mạnh lên khiến cho một số ngân hàng đang tích cực thu hút nguồn vốn này từ người dân và doanh nghiệp. Đây cũng là lý do trong thời gian qua, một vài ngân hàng đã có động thái lách trần lãi suất huy động bằng USD.

Theo phó tổng giám đốc một ngân hàng, nếu các doanh nghiệp vay ngoại tệ rồi bán lấy tiền đồng để sản xuất kinh doanh và xuất khẩu sản phẩm, khi ngoại tệ về từ 3 đến 6 tháng sau sẽ được dùng để trả nợ cho ngân hàng.

Như vậy, nguồn ngoại tệ để bán cho ngân hàng sẽ thiếu trong các tháng cuối năm trong khi nhu cầu mua ngoại tệ không đổi có thể sẽ tạo áp lực lên đồng nội tệ. 

Theo báo cáo chiến lược tháng 6 của Công ty chứng khoán Rồng Việt, tuy tỷ giá đang diễn biến tích cực nhưng chỉ là ngắn hạn, áp lực lên đồng nội tệ vẫn lớn do nhập siêu vẫn tiếp tục ở mức cao. Ngoài ra, lãi suất USD thấp có thể khiến các dòng tiền bên ngoài đổ vào ít hơn.

Nếu xu hướng trên tiếp tục tái diễn trong các tháng tiếp theo sẽ ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán và cuối cùng là đến tâm lý người dân, công ty này nhận định.

Ông Phạm Xuân Hòe, Giám đốc VietinBank chi nhánh Nam Thăng Long bày tỏ lo ngại, nếu chủ quan, tỷ giá những tháng cuối năm sẽ tăng trở lại.

Còn ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho biết, tín dụng 6 tháng đầu năm 2011 đã tăng gấp đôi so với năm ngoái. Các khoản vay này thông thường từ 3 đến 6 tháng, nên vào tháng 9, 10 trở đi, khi đến hạn trả nợ của các doanh nghiệp, khả năng căng thẳng tỷ giá rất dễ xảy ra.

Tuy nhiên, ông Nghĩa hy vọng vào dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước đã tăng lên có thể làm tình hình khác hơn.

Một số doanh nghiệp nhập khẩu cũng rất vui mừng khi tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tuyên bố hoàn toàn có cơ sở để bình ổn tỷ giá cuối năm./.
Minh Thúy
Các bài khác:

Thầy chưa giỏi, trò sao hay!




Ảnh minh họa: pgdcamle.edu.vn
[DNSGCT/TVN] Lại một năm học mới sắp đến, những ưu tư của xã hội về một nền đại học có chất lượng dường như ngày càng chồng chất, khi đối diện với một thực tại: số lượng cũng như chất lượng giảng viên đại học ngày càng thiếu và yếu trầm trọng hơn. Trong lúc đó, số sinh viên cứ tiếp tục tăng.

Hàng loạt kế hoạch, với những hứa hẹn tăng chất lượng đại học thông qua những chương trình nâng trình độ thầy, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường cơ sở vật chất nhà trường..., cũng đã được ngành giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) đề ra. Nhưng, sau một kế hoạch năm năm (2006-2010) có vẻ mọi chuyện vẫn trong vòng quay tít mù mà chưa thấy lối ra!

Năm 2011 đã đi qua hơn nửa chặng đường, điểm lại hàng loạt kế hoạch nâng cấp chất lượng nền đại học Việt Nam với những thời điểm xem xét cụ thể vào năm 2010 và 2020 và cũng chỉ mới nhìn nhận riêng về chất lượng người thầy - chúng tôi chợt nhận ra rằng, hàng loạt chỉ tiêu mà ngành GD-ĐT đề ra trước đó đã không đạt như yêu cầu mong muốn. Chuyện gì đang xảy ra?

Vỡ kế hoạch - trách ai?

Năm 2006, Bộ GD-ĐT đã có một thống kê cụ thể với tỷ lệ chỉ có 60% giảng viên đại học đáp ứng được yêu cầu giảng dạy. Trước thực trạng trên, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã lên tiếng: "Đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng này. Sẽ không mở rộng quy mô chừng nào chất lượng vẫn chưa được cải thiện. Năm học này, Bộ GD-ĐT sẽ tập trung cho việc xây dựng, quy hoạch đội ngũ giáo viên".

Tiếc rằng, chỉ đạo đúng đắn này của Phó thủ tướng đã không được thực hiện một cách triệt để. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT vừa công bố, năm 2006 cả nước có 104 trường đại học (không kể cao đẳng) thì đến năm 2010 đã có 149 trường đại học, số sinh viên (SV) từ 1.016.276 lên 1.358.861 SV, và số giảng viên (GV) từ 34.294 lên 45.961. Tức là trong vòng một kế hoạch năm năm, vẫn kịp có thêm 45 trường đại học mới mở (tăng gần gấp rưỡi), quy mô vẫn phát triển mạnh mẽ.

Nghị quyết 14-2005/NQ-CP về "Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020" đề ra chỉ tiêu cần đạt tới: trong năm 2010 là trên 25% GV đại học có trình độ tiến sĩ, và năm 2020 - trên 35% có trình độ tiến sĩ. Nhưng, nếu năm 2006 có 5.744 tiến sĩ trên tổng số 34.294 GV, tỷ lệ là 16,75%, thì đến năm 2010 có 6.448 tiến sĩ trên tổng số 45.961 GV, tỷ lệ chỉ còn 14%. Như vậy, chỉ tiêu về chất lượng người thầy mà nghị quyết mong muốn đạt được ở năm 2010 đã chưa hoàn thành, nếu không muốn nói là tình hình còn xấu đi.

Theo quy định của Bộ GD-ĐT, trường đại học mới phải đáp ứng được yêu cầu có ít nhất 30% GV cơ hữu. Bao nhiêu trường đạt yêu cầu này? Đấy thực sự là một ẩn số. Nhiều trường cố gắng "vơ bèo gạt tép" ghi tên vào danh sách cơ hữu hầu hết GV trẻ có trình độ mới tốt nghiệp đại học, hoặc nếu GV có trình độ tiến sĩ, thì nói vui theo TS Thái Bá Cần, thuộc ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM trong một cuộc họp là: "Nếu Bộ cất công rà soát, có thể phát hiện ra nhiều trường hợp một ông cùng lúc có thể cơ hữu đến vài ba trường".

Thủ tướng Chính phủ ngày 27-7-2007 cũng đã ký quyết định số 121/2007/QĐ-TTg phê duyệt "Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH-CĐ giai đoạn 2006-2020" của Bộ GD-ĐT, trong đó mục tiêu quy hoạch đến năm 2010 có 10 trường đại học mà mỗi trường có ít nhất một khoa (ngành) hoặc lĩnh vực đào tạo đạt tiêu chí chất lượng tương đương so với các trường có uy tín trên thế giới; đến năm 2015 có 20 trường đại học đạt tiêu chí nêu trên và năm 2020 có một trường đại học được xếp hạng trong số 200 trường đại học hàng đầu thế giới. Tiếc rằng, đến nay đã giữa năm 2011 vẫn chưa thấy trường đại học nào công bố chính thức có lĩnh vực đào tạo nào đạt đẳng cấp được quốc tế.

"Yếu, đừng mơ ra gió"!

Trong lúc dư luận xã hội ồn ào tranh cãi và "mơ" về những đại học Việt Nam mang đẳng cấp quốc tế, thì người thầy vẫn lặng lẽ làm công việc "đưa đò cho trò sang sông" với bao khó khăn vây bủa.

Ai cũng biết chất lượng đội ngũ giảng viên quyết định cơ bản chất lượng đào tạo. Cho dù hệ thống giáo dục và phương thức giáo dục đã thay đổi nhiều so với trước đây thì quy luật "thầy giỏi kéo theo trò giỏi" vẫn luôn có giá trị. Nhìn về người thầy dạy đại học hôm nay, chúng ta thấy gì?

Trong khi chuẩn trung bình quốc tế tỷ lệ GV/SV là 1/15 - 1/20, còn đại học Việt Nam năm 2006, tỷ lệ GV/SV là 1/29,6, thì đến 2010 tỷ lệ này là 1/29,5. Tức là sau năm năm với bao nỗ lực, ngành GD-ĐT vẫn chưa cải thiện nổi về số lượng người thầy. Nếu nhìn trên thực tế, số GV trực tiếp tham gia giảng dạy còn thấp hơn số trên văn bản giấy tờ, bởi hàng loạt GV trình độ thấp (cử nhân hoặc thạc sĩ) của các đại học đã tham gia vào "chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ" ở trong và ngoài nước. Xa hơn, một báo cáo giám sát của Quốc hội năm 2009 đã chỉ rõ: từ năm 1987 đến 2009, số SV cả nước tăng 13 lần, nhưng số GV chỉ tăng ba lần. Như vậy, không cần so sánh với ai, chỉ "ta" hôm nay so với "ta" trước đây, cũng thấy sự tụt hậu về người thầy, chất lượng giảng dạy sẽ ra sao!?

Hiệu trưởng Trường ĐH Nông nghiệp I đã phải "kêu" rằng các trường khó đạt chuẩn là do đội ngũ GV quá thiếu. Ông dẫn chứng từ thực tế của trường: Tốc độ phát triển bình quân đội ngũ GV của trường chỉ bằng khoảng 1/10 so với tốc độ phát triển số lượng SV, theo chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm.

Chính việc thiếu hụt GV đã khiến không ít thầy cô phải dạy tới 1.000 tiết/năm, trong khi quy định chuẩn là 280 tiết/năm. Bên cạnh thực trạng thiếu GV, cộng thêm bức bách về đời sống, đã đẩy người thầy vào tình cảnh "dạy ngày không đủ, tranh thủ dạy đêm".

Nhìn một cách cơ học ở góc độ bằng cấp như đã nói ở trên, từ tỷ lệ có 16,75% GV đại học Việt Nam có trình độ tiến sĩ vào năm 2006, thì đến 2010, tỷ lệ này xuống còn 14% - trong khi tỷ lệ trung bình ở các đại học phương Tây là 70% GV đại học là tiến sĩ. Một khoảng cách quá xa với quốc tế, chúng ta còn có thể nói gì nữa về một chất lượng đại học có đẳng cấp.

TS Nguyễn Thu Trang, ĐH Phú Yên cho biết: Năm 2008, ĐH Phú Yên vỏn vẹn chỉ có ba tiến sĩ. Năm 2009 tăng thêm hai và năm 2010 đã tăng thêm ba. Bề ngoài có thể thấy đây là sự tiến lên dễ dàng nhưng để giữ được tốc độ này và để đạt tới con số 25% tiến sĩ như Nghị quyết14-2005/NQ-CP đề ra là điều cực kỳ gian nan.

Điều đáng ngạc nhiên là, các trường đại học tuyển nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ trong nước ngay trong đội ngũ GV cũng rất khó khăn. Tại Hội nghị thường niên 2010 của khối ĐHQG TP.HCM, TS Nguyễn Đức Nghĩa - Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM cho biết, trong những năm qua, khối các trường trong ĐHQG xảy ra tình trạng luôn thiếu chỉ tiêu nghiên cứu sinh (NCS) làm luận án tiến sĩ.

Trong năm 2008 chỉ tuyển được 80 chỉ tiêu NCS làm tiến sĩ, năm 2010 đề ra 180 chỉ tiêu nhưng vẫn không tuyển đủ người. PGS-TS Vũ Đình Thành - Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa TP.HCM cũng trăn trở: "Năm 2010 trường có 250 thầy cô/tổng số 900 cán bộ giảng dạy tham gia làm NCS nhưng đều ở nước ngoài. Các lý do "ngại" làm tiến sĩ trong nước đều do vấn đề kinh phí, cơ chế quản lý cũng như điều kiện làm việc khó khăn". Những trở ngại trên nằm trong tầm tay tháo gỡ của chính Bộ GD-ĐT, nhất là khi đã có Quyết định 911/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt "đề án đào tạo GV có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020" - vậy mà vì sao vẫn bế tắc!?

Với môi trường đại học - cái nôi sản sinh ra kiến thức cho nhân loại - vai trò của người thầy không chỉ là nhà giáo mà còn phải là nhà khoa học, và chính thông qua các công trình nghiên cứu, người thầy sẽ có điều kiện nâng chất lượng bài giảng của mình. Theo Vụ Khoa học - Công nghệ (Bộ GD-ĐT), hiện nay chỉ có khoảng 28,4% giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. So sánh về năng suất khoa học giữa đại học Việt Nam và đại học của Thái Lan sẽ thấy: Số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế năm 2009 của Việt Nam là 959 bài, chỉ bằng 21% số bài của Thái Lan (4.527 bài). Chẳng những thế, tỷ lệ tăng trưởng của đại học Việt Nam cũng thấp hơn Thái Lan. So với năm 2005, con số bài báo khoa học từ Thái Lan tăng gần gấp hai lần, trong khi đó Việt Nam chỉ tăng khoảng 75%.

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động thiết yếu, nếu không muốn nói là số 1 của một đại học đẳng cấp quốc tế. Vậy mà, đại học Việt Nam lại quá yếu về lĩnh vực này. Phải chăng giấc mơ "đẳng cấp" của đại học Việt Nam quá lãng mạn!
Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần Tác giả: MAI LAN
Các bài khác:

Wednesday, August 3, 2011

Nhiệm kỳ bộ trưởng mới và nền GD rất cần dấu ấn

[TVN] Trước bao vấn đề còn tranh cãi, nhiều câu hỏi còn dở dang, ngành giáo dục cần người đứng đầu phải có bản lĩnh và thực sự có dấu ấn cá nhân. Dấu ấn ấy chính là thái độ dám chịu trách nhiệm, điềm tĩnh, cẩn trọng nhưng dứt khoát trong xử lý những vấn đề có tính chiến lược của ngành.


Không hiểu quá khứ sao có thể nắm bắt tương lai?

Giáo dục không có nhiệm kỳ nhưng việc thiết kế tương lai ấy lại liên quan đến mỗi nhiệm kỳ bộ trưởng- vị tư lệnh ngành như người ta vẫn nói. Khi tân bộ trưởng giáo dục tuyên bố không muốn tạo ra dấu ấn, người ta ngầm hiểu đó là sự khiêm tốn và cả lối tư duy thực tế, muốn làm nên những thành tựu lâu dài và thực chất chứ không phải là phong trào bề nổi.

Thế nhưng, thực tiễn mới là câu trả lời đầy đủ nhất. Giáo dục là sự tiếp nối bền vững trong tư duy thống nhất và dài hạn. Nhưng giáo dục cũng cần những thành quả cụ thể bởi không ai dám lơ là với mỗi bước phát triển của những chủ thể tương lai.

Một năm qua, nhiều sự kiện của giáo dục khiến dư luận không thật yên tâm. Liệu bệnh thành tích có quay trở lại khi kết quả thi tốt nghiệp THPT cao chót vót? Cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử" đã đi đến đâu khi kỳ thi vui vẻ và nhẹ nhàng đến khó tin?

Rồi kết quả thi Olympic toán quốc tế thấp nhất trong hơn 30 năm tham gia cũng khiến nhiều người băn khoăn về thành tích toán của học sinh giỏi Việt Nam liệu có đi theo hướng bền vững và thực chất?

Đặc biệt, dư luận lo lắng với kết quả thi đại học môn lịch sử quá thấp. Càng lo lắng hơn khi nghe người đứng đầu ngành giáo dục khẳng định: "Hàng nghìn điểm 0 môn lịch sử là chuyện bình thường".

Những học sinh chọn khối C để gửi gắm mơ ước cuộc đời mình, những học sinh đủ 12 năm đèn sách mà kiến thức lịch sử bằng 0. Họ sẽ làm chủ cuộc đời mình ra sao, đi về đâu trong cuộc đời mông lung không định hướng? Không hiểu quá khứ làm sao họ có thể nắm bắt tương lai?

Cần cả dấu ấn và bản lĩnh cá nhân

Sản phẩm của giáo dục là con người. Mà con người là tổng hòa của bao nhiêu mối quan hệ, bao nhiêu sợi dây liên kết dích dắc của lịch sử và xã hội. Thế nên nếu ngành giáo dục đổ chuyện học trò dốt sử cho xã hội, cho môi trường văn hóa thì cũng khó ai bác bỏ.

Nhưng sẽ là vô cảm nếu không nhìn vào những nguyên nhân từ dạy và học, không giật mình với những yếu kém, bất hợp lý trong ngành. Rèn trí nhớ cũng cần, nhưng bắt học trò nhớ đến từng con số vũ khí thu được trong trận đánh, từng ngày tháng chi li trong dặm trường lịch sử dài cả nghìn năm thì có còn hợp lý?




Khi người đứng đầu biết quan tâm đến dư luận, trân trọng ý kiến đóng góp và chia sẻ những lo âu của hàng chục triệu phụ huynh có con tới lớp, mới hy vọng những câu chuyện buồn như "hàng nghìn điểm 0 là chuyện bình thường" sẽ được giải quyết có chiều sâu và đem lại kết quả lâu dài.


Ai cũng biết nhà quản lý cần cái đầu lạnh, không bị chi phối quá mức bởi dư luận xã hội. Nhưng không bị chi phối quá mức không đồng nghĩa với coi thường dư luận xã hội. Ai cũng hiểu thiên chức của giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức mà quan trọng là thắp lên những ngọn lửa đam mê.

Khi lịch sử chưa đủ sức hấp dẫn người học, khi ngành giáo dục chưa làm tròn nhiệm vụ giúp học sinh hiểu và yêu hơn lịch sử đất nước, và đồng nghĩa với nó là nhìn xa ra thế giới. Khi kết quả thi lịch sử thấp đến kinh ngạc thì những người thầy không thể không thao thức về trách nhiệm của mình.

Đặc biệt trong bối cảnh nhạy cảm của tình hình hiện nay, lòng yêu Tổ quốc, hiểu và yêu sâu sắc lịch sử đất nước càng cần được đề cao. Đất nước hội nhập cần nhiều doanh nhân giỏi nhưng ai có thể yên lòng khi các doanh nhân không hiểu và say sưa với nguồn mạch lịch sử nước nhà?

Đất, rừng, biển và cả khí trời cũng cần được trân trọng, nâng niu, tạo nên giá trị bền vững cho muôn đời con cháu chứ không thể là món lợi thuần túy bán mua để gieo họa tương lai. Những bài học ấy cũng thuộc về lịch sử, tạo nên chiều sâu hấp dẫn và sức cuốn hút tự nhiên.

Đó không phải là môn học, là kiến thức nhồi nhét mà phải là ngọn lửa đam mê. Có ngọn lửa ấy, duy trì cho nó cháy mãi, thì mọi nẻo đường đời dù chông gai, vất vả đến đâu cũng không ngăn cản được người ta đi tới thành công.

Một nhiệm kỳ bộ trưởng mới lại bắt đầu. Trước bao vấn đề còn tranh cãi, nhiều câu hỏi còn dở dang, ngành giáo dục cần người đứng đầu phải có bản lĩnh và thực sự có dấu ấn cá nhân. Dấu ấn ấy chính là thái độ dám chịu trách nhiệm, điềm tĩnh, cẩn trọng nhưng dứt khoát trong xử lý những vấn đề có tính chiến lược của ngành.

Khi người đứng đầu biết quan tâm đến dư luận, trân trọng ý kiến đóng góp và chia sẻ những lo âu của hàng chục triệu phụ huynh có con tới lớp, mới hy vọng những câu chuyện buồn như "hàng nghìn điểm 0 là chuyện bình thường" sẽ được giải quyết có chiều sâu và đem lại kết quả lâu dài.
Tác giả: ĐỖ CHÍ NGHĨA
Các tin khác:

Tuesday, August 2, 2011

Lãi vay 0%, DN bất động sản vẫn "chết"

(VnMedia) - Nếu doanh nghiệp bất động sản chấp nhận vay ngân hàng với lãi suất 26-27% thì chỉ có nai lưng ra làm để trả nợ. Ngay cả khi doanh nghiệp vay được với lãi suất 0% thì cũng khó trụ nổi bởi vì chi phí đầu vào tăng cao trong khi lượng nhà tồn kho ở mức lớn.

Theo thống kê, hiện cả nước đang có 20 tỷ USD đầu tư trong lĩnh vực bất động sản tuy nhiên số lượng dự án triển khai giá trị lại lên tới khoảng hai ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến hàng trăm dự án sẽ tiếp tục triển khai sau khi Thủ tướng phê duyệt quy hoạch chung. Nhiều ý kiến lo ngại rằng, nếu tình trạng này kéo dài, Việt Nam sẽ không bao giờ có đủ tiền để thực hiện dự án cũng như nhà đầu tư không thể đủ tiền để "hấp thụ" hết được các sản phẩm nhà ở trong tương lai.

Trong khi đó, cả doanh nghiệp bất động sản, nhà đầu tư đều "kêu cứu" mong muốn Chính phủ, Ngân hàng nhà nước nhanh chóng xem xét mở tín dụng để cứu các doanh nghiệp. Thế nhưng, nhiều chuyên gia cho rằng kể cả bây giờ ngân hàng cho vay với lãi suất 0% thì doanh nghiệp vẫn khó có thể trụ vững được.

Theo Tiến sĩ Lê Thẩm Dương - Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, đại học Ngân hàng TPHCM, các doanh nghiệp bất động sản đang đứng trước tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu chấp nhận vay ngân hàng với lãi suất 26-27% thì doanh nghiệp chỉ có nai lưng ra làm để trả nợ vay ngân hàng. 

Song giả sử doanh nghiệp vay ngân hàng lãi suất 0% thì vẫn "chết" chứ đừng nói là vay được. Bởi vì đầu vào tức là nguyên nhiên vật liệu đang ở mức cao trong khi lượng nhà tồn kho ở mức lớn mà vẫn không thể bán được. 

Thực tế, lãi suất chỉ là 1 trong 12 chi phí lớn nhất để cấu tạo nên cái nhà, đó là chưa kể đến khó khăn khác nữa. Lãi suất cao khiến các doanh nghiệp phải phản ứng bằng cách tăng chiết khấu để bán bằng được nhà. Thậm chí có doanh nghiệp giảm giá liên tục mà không bán được hàng. 

Theo ông Dương, doanh nghiệp không nên hi vọng vào việc nới tín dụng bởi điều đó là không thể. Bài học 3 năm trước vẫn còn, đặc biệt năm 2010 khi chỉ số của nền kinh tế hơi lạc quan một chút, nhà nước đã nới tín dụng hậu quả lạm phát tiếp tục phi mã. 

"Bất động sản cứ giải quyết theo hướng cho vay nữa sẽ không ổn mà theo chủ trương Chính phủ thì chắc chắn không tiếp tục cho vay. Hệ quả, thị trường sẽ buộc thanh lọc để tìm ra doanh nghiệp nào khỏe sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu bị loại. Năm nay, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng ở mức 20% trong khi 6 tháng đầu năm con số này đạt 7%. Vì vậy với 13% còn lại Chính phủ sẽ phân phối thật hợp trong đó dư nợ tín dụng bất động sản chỉ được mức 16%, ngân hàng nào còn room sẽ vẫn tiếp tục cho vay bất động sản" -ông Dương phân tích.

Trả lời báo chí gần đây, ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc Techcombank cũng cho rằng, vấn đề lãi suất chỉ là một trong những yếu tố làm trầm trọng hóa tình trạng doanh nghiệp chứ không phải là nguyên nhân căn bản. Nguyên nhân căn cơ nhất chính là việc mất cân đối từ gốc và sự thiếu tập trung trong hoạt động của bản thân doanh nghiệp.

Thêm vào đó, ông cho rằng, cấu trúc vốn của các doanh nghiệp rất bấp bênh, hơn 60% doanh nghiệp mất cân đối về vốn. Họ đã lấy quá nhiều vốn ngắn hạn đem đầu tư trung dài hạn, và đa số doanh nghiệp đều đầu tư ngoài ngành. Hơn 90% doanh nghiệp đều có dính dáng ít hay nhiều đến bất động sản. Do vậy, không phải lãi suất hạ thì doanh nghiệp sẽ tốt hơn, mà cái chính là các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay cần phải nhìn lại mình, củng cố lại hoạt động, cơ cấu vốn, và chiến lược để có thể phát triển tiếp trong giai đoạn tới.

Theo ông Nguyễn Hữu Cường - Chủ tịch Câu lạc bộ bất động sản Hà Nội, cơ chế tín dụng bất động sản đang trong vòng luẩn quẩn. Thực tế hiện nay doanh nghiệp bất động sản không vay được tiền phía ngân hàng. Thế nhưng kể cả doanh nghiệp vay được tiền đi nữa không thể bán được hàng vì người mua nhà không vay được tiền ngân hàng.

"Tất cả chúng ta đều thấy lượng tiền cho vay dự án bất động sản là rất lớn, nếu cho doanh nghiệp vay mà họ không đầu tư sản xuất, tiền nằm yên rất lãng phí, nhiều rủi ro. Thay vì ngân hàng cho vay dự án thì nên cho 100 người vay tiền để mua nhà. Làm như vậy thúc đẩy được đầu ra doanh nghiệp. Hai nữa, khi hàng hóa lưu thông thì ngân hàng mới thu hồi được nợ. Đầu ra sản phẩm bất động sản là yếu tố rất quan trọng đối với hệ thống ngân hàng bởi khi người có nhu cầu mua nhà ở thực sự ngày càng đông thì sẽ loại bỏ thành phần các lớp đầu cơ" ông Cường phân tích.
Anh Đào
* Các tin khác:

Monday, August 1, 2011

Dạy và học sử: Để nhận ra cái biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử

[SGTT] - Trong kỳ thi đại học vừa qua, điểm thi môn sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ một thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy sử và học sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lý giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh.

Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc

" Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới."




Học sử là nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử để mà biết làm người
cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới.
Trong ảnh là giờ học môn Lịch sử của học sinh lớp 12A6, trường THPT Hùng Vương, Q5,TP.HCM
(niên khoá 2010 -2011) - ảnh chỉ mang tính minh hoạ. Ảnh: Trần Huy
Hãy coi trọng các giá trị tinh thần.

Những biến chuyển thời đại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Đứng trước những vấn đề như vậy, cách đây mấy năm, trường đại học Harvard của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dù đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ thời đại nào, khi khoa học kỹ thuật công nghệ càng phát triển thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người. Nó làm cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền.

Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi.

Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục bế tắc. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội. Tất nhiên, vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử, thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi nhẹ các giá trị tinh thần và nhân văn!

Nhìn vào lõi của vấn đề.

Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng”. Vì sao? Rất đơn giản vì đó là những môn bị chính trị hoá nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Học chính trị là quá cần thiết, và có thể dạy thật hay. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Mỗi môn có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người.

Học sử, học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.

Gần đây, giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. GS Hoàng Tuỵ thì nói: Phải “thế tục hoá”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở châu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hoá giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kiềm chế lâu dài của nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tuỵ trong ý nghĩa đó.

Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này, ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là uỷ ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa lịch sử ra sử dụng trong công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tuỳ tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử cũng tuyệt nhiên không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi chúng ta đang sống trong thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới.
NGUYÊN NGỌC
Các tin khác: