Showing posts with label Tư Liệu. Show all posts
Showing posts with label Tư Liệu. Show all posts

Friday, May 10, 2013

Việt Nam: Uống bia nhất trái đất và hạnh phúc nhì hành tinh?

[Thư viện marketing] Trong khi các ngành sản xuất khác điêu đứng thì bia rượu lên ngôi. Kinh tế suy thoái nhưng bia được bán chạy như... bia. Tháng 4.2013, sản xuất bia tại Việt Nam ước đạt 233,4 triệu lít, tăng 15% so với tháng 4.2012. Kể ra, sự thành công này cũng rất ấn tượng.

Nhưng ấn tượng hơn là khi đại diện của hãng Heineken đưa ra dự báo chắc nịch, đến năm 2015, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ bia lớn nhất thế giới. Mới năm trước, thị trường của nước nghèo Việt Nam đã tiêu thụ 3 tỉ lít bia, tương đương 3 tỉ USD. Nếu trở thành nhà vô địch uống bia thế giới, đất nước này không biết mất bao nhiêu tỉ đô la cho loại nước có men này.

Các nhà sản xuất và kinh doanh bia ắt là rất khoái vì hội chứng mê uống bia của người Việt, đặc biệt là các quý ông. Nhà sản xuất trong và ngoài nước kiếm bộn tiền ở quốc gia nghèo như Việt Nam không chỉ là do tài kinh doanh của họ mà do đa số người dân “máu” uống bia.

Cùng với con số 3 tỉ lít bia và danh hiệu vô địch bia bọt toàn cầu là con số tai nạn giao thông vào loại hàng đầu thế giới. Khó có quốc gia nào thí mạng người cho tai nạn giao thông “hào phóng” như xứ sở có chỉ số hạnh phúc đứng thứ nhì thế giới là Việt Nam ta.

Cùng với 3 tỉ đô la Mỹ trả cho những cơn phiêu bia bọt là hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng phải bỏ ra để nhập thuốc điều trị cho các nạn nhân bị thương tật, tai nạn giao thông và các loại bệnh tật do bia rượu gây nên. Ba tỉ lít bia một năm đủ để phá đi rất nhiều lá gan, bao tử của không ít người. Sức khoẻ của mỗi cá nhân không chỉ là tài sản của riêng họ mà là vốn liếng của cả xã hội. Và xin thưa, vốn liếng đó đã bị suy kiệt tỉ lệ nghịch với con số tăng trưởng của ngành sản xuất bia hàng năm.

Không biết Quỹ kinh tế mới có nhầm lẫn gì không khi xếp hạng Việt Nam vào hàng thứ 2 hạnh phúc trên hành tinh này theo các tiêu chí hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình và dấu chân sinh thái. Nếu chỉ tính riêng uống bia rượu, hút thuốc lá và an toàn vệ sinh thực phẩm, dân Việt Nam khó có thể thọ hơn dân nước khác. Còn hài lòng với cuộc sống hay không khi ra đường là có thể bị toi mạng vì tai nạn giao thông, chưa kể trăm thứ bức xúc khác?

Không thể tự hào chuyện uống bia hay ăn mì gói đứng vào hàng “top” thế giới. Nếu như Việt Nam sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm đem lại lợi ích khác được như bia thì hay biết mấy!

Theo Lê Chân Nhân - Nguồn: Dantri
Tin bài khác:

Sunday, May 5, 2013

Chủ tịch VCCI: 'Hãy đầu tư và làm những gì thực tế nhất'

[Thư viện marketing] Cho rằng khó khăn kinh tế có thể còn kéo dài tới năm sau, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - Vũ Tiến Lộc kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp bền trí và cố gắng trụ vững, tránh làm ăn chụp giật.

Ông Lộc trao đổi với báo giới nhận dịp kỷ niệm thành lập 50 năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
- Bên cạnh những tác động chung từ nền kinh tế, ông đánh giá như thế nào về khó khăn nội tại của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?

- Cũng như các nước đang phát triển khác, doanh nghiệp chúng ta hiện nay mới tập trung vào các lĩnh vực tốn nhiều chi phí, lao động và chủ yếu là gia công. Trong một khoảng thời gian dài, số lượng doanh nghiệp gia tăng khá ấn tượng, nhưng về quy mô và thương hiệu chưa tạo dựng được.

Việt Nam thiếu những doanh nghiệp phát triển trong ngành công nghệ cao, nhiều chất xám. Thu hút đâu tư nước ngoài thì có, nhưng chưa có sức lan tỏa và thiếu chiều sâu. Chúng ta chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp công nghệ cao, mà chủ yếu là đơn vị cần nhiều lao động. Cải cách khu vực kinh tế nhà nước chậm, dẫn tới năng lực cạnh tranh của khu vực này yếu. Trong khi, khu vực tư nhân thì vốn mỏng, nhiều doanh nghiệp làm ăn manh mún. Nói chung, thực trạng doanh nghiệp còn nhiều điểm hạn chế.

- Doanh nghiệp Việt Nam đã hội nhập vào kinh tế thế giới khá lâu, nhưng thực tế, hiện chưa có tên tuổi nào mang tầm thương hiệu quốc tế, ông lý giải việc này như thế nào?

- Giai đoạn đầu tiên khi Việt Nam mới mở cửa, rào cản kinh doanh dần gỡ bỏ, các doanh nghiệp có điều kiện phát triển tương đối tốt. Doanh nghiệp dựa vào những sản phẩm kinh doanh sản xuất thiết thực và cốt lõi. Họ không đa ngành nghề và biết nhắm những mục tiêu cụ thể. Tất nhiên, hầu hết là kinh doanh với quy mô vừa và nhỏ.

Sau này, khi nền kinh tế bùng nổ, bắt đầu xuất hiện nhiều lợi điểm cho hoạt động đầu cơ. Đâu đâu doanh nghiệp cũng đầu tư từ bất động sản, chứng khoán, ngân hàng đến vàng... chất lượng sản phẩm do những thay đổi về công nghệ sản xuất không được tập trung phát huy, mà nhắm tới những mối làm ăn nhanh, dễ, dựa vào quan hệ nên không tránh khỏi tâm lý đầu cơ, chộp giật, lãi lớn nhất thời. Một thế hệ "đại gia" dựa trên bất động sản, chứng khoán, tài chính... xuất hiện.

Bong bóng bất động sản, vàng, chứng khoán, ngân hàng... đang dần tan nát. Nhiều doanh nghiệp lớn, các "đại gia" không biết bấu víu vào đâu, tài sản sụt giảm mạnh. Những vấn đề cốt lõi như quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, đầu tư vào công nghệ, vào sản phẩm thực tế, vào thương hiệu một thời gian dài bị bỏ bẵng giờ mới chứng tỏ giá trị của mình. Nhưng một bộ phận doanh nhân đã bị chệch hướng quá lâu, khiến năng lực cạnh tranh cùng tài sản của họ giảm xuống. Doanh nghiệp to vì thế bé đi, doanh nghiệp bé thì không lớn được. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp nhìn lại mình, giúp những đơn vị tốt phát triển.

Ảnh: Hàn Phi

- Nhiều ý kiến cho rằng kinh tế khó khăn sẽ giúp sàng lọc những doanh nghiệp. Nhưng thực tế cho thấy thời gian qua, nhiều doanh nghiệp tốt vẫn chết, trong khi một số doanh nghiệp Nhà nước yếu kém lại tồn tại do nhận được hỗ trợ. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

- Về mặt pháp lý, chúng ta đã quy định các doanh nghiệp đều bình đẳng, nhưng thực tế, vẫn có sự bất bình đẳng trong cộng đồng này. Nó được thể hiện rõ nhất ở khối các doanh nghiệp nhà nước và những doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đại bộ phận tài sản tập trung trong tay các doanh nghiệp nhà nước, và những sự ưu ái từ các ngân hàng dành cho họ là không thể phủ nhận, thì doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp ít vốn lại không có được điều này.

Tất nhiên, nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp đến từ phía chính bản thân họ, chứ không phải từ bất cứ ngoại cảnh nào. Có bộ phận doanh nghiệp, từ khi thành lập, đã có xu hướng làm ăn chộp giật, ngắn hạn, đầu cơ, quản trị kiểu gia đình. Họ chưa chú trọng vào định hướng kinh doanh lâu dài, và chỉ muốn thành công nhanh, thiếu củng cố nội lực. Thực tế, đa phần các đơn vị như vậy đã phải trả giá cho chiến lược kinh doanh của mình.

Thêm vào đó, khó khăn chồng chất, thuế, phí cao, chính sách hay thay đổi, khiến nhiều doanh nghiêp nhỏ và vừa, mặc dù có nhiều tiềm năng không kịp thích nghi, dẫn tới sự đổ vỡ như chúng ta thấy trong thời gian vừa qua. Đó là bài học lớn về sự quản lý cần sự công bằng, nhất quán và việc đưa ra những chính sách hợp lý kịp thời.

- Ông đánh giá như thế nào về những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đã được triển khai?

- Không thể phủ nhận tính tích cực của các giải pháp mà Chính phủ đưa ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn hiện nay cần phải làm quyết liệt hơn nữa. VCCI đề nghị giảm mức thuế từ 25% xuống còn 20%, và áp dụng ngay từ 1/7 năm nay mà không cần phân biệt doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Có ý kiến cho rằng, giảm thuế như vậy không giúp được doanh nghiệp vì doanh nghiệp đâu còn tiền mà đóng thuế. Nhưng VCCI không nghĩ như vậy. Bởi lẽ, chúng ta đâu phải chỉ cần giúp doanh nghiệp yếu, mà cũng phải giúp cả những doanh nghiệp tốt. Khi doanh nghiệp có tích lũy về lợi nhuận thì mới tái đầu tư được và làm cho họ có sức cạnh tranh hơn trên thị trường.

Giảm thuế cũng là xu hướng chung của các nước trong khu vực, làm tăng nguồn đầu tư cả trong và ngoài nước. Không thể nhìn nhận giảm thuế làm giảm ngân sách trong năm xuống bao nhiêu, mà phải có góc nhìn rộng hơn, toàn cục hơn. Ngoài ra, có những biện pháp đã đề xuất từ khá lâu trong nghị quyết 02 cũng cần phải cương quyết thực hiện. Trong đó, về ngắn hạn cần giảm ngay gánh nặng thuế phí, thủ tục hành chính, lãi suất thực, và chi phí tiền thuê đất... Còn về dài hạn, cần xác định tính nhất quán trong điều hành, khắc phục yếu kém trong hệ thống tài chính, minh bạch thông tin... và thực hiện triệt để việc tái cơ cấu kinh tế.

- VCCI - với tư cách là người đứng đầu tổ chức về doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, mong muốn điều gì nhất ở thời điểm này?

- Hơn 2 năm qua, cộng đồng doanh nghiệp với sự lãnh đạo của các doanh nhân đầy hoài bão có lẽ đã trải qua những ngày "nhức óc" nhất trong sự nghiệp. Năm 2013, kinh tế chưa dễ dàng được phục hồi, khó khăn có lẽ còn kéo dài sang năm sau, chưa ai đoán trước được. Vì thế, bảo toàn lực lượng, củng cố nội lực để trụ vững trong bối cảnh hiện nay là một thành công lớn của doanh nghiệp. Tôi mong sự bền chí và vững tin của doanh nhân vào những lựa chọn của mình. Hãy đầu tư và làm những gì thực tế nhất, không phù phiếm, không chộp giật.

Mỗi một doanh nghiệp mất đi là điều không ai mong muốn. Là tổ chức hỗ trợ, VCCI có trách nhiệm rất lớn với những mất mát của doanh nghiệp thời gian qua. Trong điều kiện hiện tại, khả năng hỗ trợ cho doanh nghiệp của Chính phủ và của VCCI chắc chắn còn những hạn chế, nhưng không phải vì thế mà cơ hội cho doanh nghiệp mất đi. Cơ hội chắc chắn sẽ luôn còn rất nhiều.

Hàn Phi ghi - nguồn: VnExpress
Tin bài khác:

Wednesday, February 20, 2013

GS Hoàng Tuỵ: Lực cản sự phát triển của người Việt

[Học marketing] Cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ.

Để cải thiện thực trạng vốn xã hội của chúng ta, có hai vấn đề nổi bật cần lưu ý: Một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã-hội-tâm-lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt. Thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của những tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và Nhà nước.

Trí tưởng tượng "khiêm tốn"

Về vấn đề thứ nhất, đã có nhiều người bàn về những điểm mạnh, yếu, những cái hay, dở của người Việt. Ở đây tôi chỉ muốn nêu lên một số nhược điểm tính cách mà theo tôi có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn hóa, khoa học, giáo dục.

Cách đây hơn 10 năm, trong một hội thảo về đặc trưng văn hóa dân tộc ở TP. HCM tôi có nhấn mạnh yếu kém của người Việt về đầu óc tưởng tượng. Nói cho chính xác, trí tưởng tượng của người Việt không thuộc loại xuất sắc trên thế giới. Nhận xét đó có thể chạm tự ái dân tộc của nhiều người, nhưng tôi nghĩ đó là thực tế chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận.

Điều này thật ra cũng chẳng có gì lạ đối với một dân tộc bị đô hộ hàng nghìn năm, triền miên phải chống nhiều kẻ thù xâm lược lớn hơn, mạnh hơn gấp bội. Tất nhiên trí tưởng tượng của dân tộc chỉ có thể phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh giữ nước. Nhưng cũng chính vì thế trí tưởng tượng của người Việt bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống bình thường.

Chẳng hạn, trong kiến trúc truyền thống, ta không có công trình nào tầm cỡ như Angkor Wat của người Khmer. Trong kho tàng văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng lấy cốt truyện dựa theo Tàu. Ta ít có những pho truyện lớn, với nhiều tình tiết phức tạp hay ý tưởng kỳ lạ độc đáo, lôi cuốn người đọc vào những thế giới tưởng tượng nửa thực nửa hư như ở nhiều nền văn học lớn khác trên thế giới.

Hoàn cảnh lịch sử cũng đã giam hãm ông bà ta quá lâu trong lối học từ chương khoa cử, nên tư duy bị gò bó. Chúng ta thiếu những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ nhân loại. Tóm lại, gia tài để lại về trí tưởng tượng sáng tạo của chúng ta phải nói là khiêm tốn.

Trong thời đại kinh tế tri thức, đây là một nhược điểm mà nếu không cố gắng khắc phục nhanh, ta sẽ luôn ở thế yếu trong sự cạnh tranh với thế giới. Einstein từng nói một câu nổi tiếng: "Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức." Mới nghe tưởng như một nghịch lý nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc.

Ý nghĩa thời sự của chân lý đó là: Học để hiểu, để nhớ, để mở mang kiến thức là rất cần thiết, nhưng chỉ đủ để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để khám phá, sáng tạo; mà người ta không thể khám phá, sáng tạo với một trí tưởng tượng nghèo nàn.

Coi pháp luật "có cũng như không"

Nhược điểm thứ hai cần nói đến ở người Việt là thiếu tinh thần kỷ luật và ý thức gắn kết cộng đồng. Trên thế giới người Đức nổi tiếng về hai đức tính đó, đặc biệt về tính kỷ luật chính xác. Người Trung Quốc, người Do Thái cũng nổi tiếng về tinh thần gắn kết cộng đồng. Còn người Việt chúng ta thì quá yếu về hai đức tính đó.

Nhiều chuyện tiếu lâm trong dân gian xung quanh việc này không phải không có cơ sở. Ngay những việc rất nhỏ trong giao thông đường phố cũng thấy rõ ứng xử khác nhau của người Việt và người Đức: Khi đèn đỏ, mặc dù nhìn quanh không thấy có xe cộ qua, người Đức vẫn kiên nhẫn đứng đợi, còn người Việt thì thường sẽ tranh thủ vượt.

Tính cách này ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển khoa học, công nghệ, và xây dựng công nghiệp. Nền văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, nề nếp đã được chuẩn hóa chính xác để bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng tối ưu của xã hội.

Thế mà đã có biết bao công trình xây dựng, nhà máy trên đất nước ta vừa mới khánh thành đã phải liên tục sửa chữa, thậm chí làm lại, chỉ vì sự cẩu thả trong việc tuân thủ các quy trình, các chuẩn mực từ thiết kế đến thi công. Đáng nói nhất là ý thức tôn trọng luật pháp chưa thành thói quen hằng ngày ngay từ các quan chức, khiến trong xã hội có nhiều tình huống tưởng như không có luật pháp, rất nguy hiểm.

Thói giả dối và thiếu cầu thị

Nhược điểm thứ ba là thiếu tinh thần học hỏi, thực sự cầu thị. Nhược điểm này của người Việt được thể hiện rõ nhất nếu chúng ta đối chiếu với người Nhật để thấy hết sự tương phản. Người Nhật có tinh thần khiêm tốn học tập cái hay của người khác và ít có thói chủ quan tự mãn, tự ru ngủ, tự cho mình là nhất thiên hạ.

Khác với nhiều người chúng ta, làm được chút gì thì ba hoa thiên địa, đến khi thất bại thì chậm rút kinh nghiệm, viện đủ mọi lý do để biện bạch ngoan cố. Đồng thời, cách học hỏi của người Nhật không mang tính nô lệ, không bị lệ thuộc. Tuy học người khác nhưng cũng biết đặt câu hỏi, lật tới lật lui, tìm cho ra đạo lý, căn nguyên, chứ không tiếp thu máy móc hời hợt.

Điều này thấy rõ ngay cả trong các hội thảo khoa học: Thường người Nhật rất chịu khó lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi, biểu lộ sự quan tâm, khuyến khích diễn giả phát biểu hết ý kiến. Nhiều hội thảo khoa học ở Nhật không khí sôi nổi hơn cả ở một số nước phương Tây.

Có lẽ nhờ cái tinh thần đó mà từ rất sớm họ đã biết mở cửa, tiếp thu nền văn minh phương Tây, mau chóng trở thành cường quốc. Và khi thất bại họ cũng biết nhẫn nhục học hỏi, rút ra những bài học cần thiết để mau chóng vươn lên từ đống đổ nát. Thật khác với chúng ta, trong quá khứ và hiện nay đã bỏ lỡ biết bao cơ hội chỉ vì cái tính bảo thủ, không biết kịp thời học hỏi, rút kinh nghiệm nghiêm chỉnh từ thất bại.

Cuối cùng, ngoài những nhược điểm đề cập trên đây, có một đặc tính tiêu cực rất nghiêm trọng, đó là thói giả dối. Từ chỗ vốn không thuộc truyền thống của người Việt, trong mấy chục năm nay, cái thói xấu này đã dần dần trở thành phổ biến đến mức có thể nói đang trở thành một tính chất tiêu biểu.

Và nếu cứ để bệnh giả dối ngày càng xâm nhập sâu vào mọi ngóc ngách cuộc sống, kể cả các hoạt động khoa học và giáo dục, thì thật đáng lo cho tiền đồ đất nước. Trong giáo dục, căn bệnh này với các biến tướng của nó (tiêu cực trong thi cử, chạy theo thành tích, v.v.) sẽ ngày càng lấn át các xu hướng lành mạnh tích cực, làm hỏng cả thanh thiếu niên, đẩy họ vào lối sống sa đọa, không lý tưởng, không mục đích.

Trong khoa học, nếu không kịp thời chấn chỉnh thì nạn đạo văn và nạn gian dối trong các báo cáo nghiên cứu sẽ phát triển ngày càng tinh vi, trắng trợn, xóa nhòa ranh giới giữa thật và dỏm, đầu độc môi trường học thuật, làm nản lòng mọi người trung thực, đẩy khoa học vào thế bế tắc rất khó thoát.

Xem xét thực trạng vốn xã hội

Vấn đề thứ hai cần xem xét về thực trạng vốn xã hội ở Việt Nam là sự phát triển của xã hội dân sự. Ngày càng nhiều những người dân tập hợp trong những tổ chức tự nguyện hoạt động ngoài khuôn khổ chính quyền và không nhằm lợi nhuận, chỉ với những mục đích cao quý, như từ thiện, giúp đỡ, bênh vực người nghèo và những số phận không may mắn, cả về vật chất lẫn tinh thần. Hoặc đơn giản là hợp tác hỗ trợ nhau trong nghề nghiệp.

Qua những tổ chức đó, ý thức trách nhiệm công dân được nâng cao, sự gắn kết cộng đồng được tăng cường, có lợi cho cộng đồng, có lợi cho đất nước. Đồng thời, xã hội dân sự cũng là cầu nối giữa chính quyền và người dân, là "cái phanh" để ngăn chặn chính quyền lạm dụng quyền lực và nạn suy thoái đạo đức, giữ cho xã hội phát triển hài hòa, lành mạnh.

Nói tóm lại, để phát triển vốn xã hội và qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của đất nước rất cần hai điều. Thứ nhất, cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ. Trong số các nguyên nhân, cần đặc biệt chú ý tới những vấn đề về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường.

Vì mặc dù vốn xã hội nằm ngoài phạm trù thể chế và cơ chế thị trường nhưng những cải cách về thể chế Nhà nước và cơ chế thị trường lại có tác dụng thúc đẩy phát triển vốn xã hội. Ví dụ đơn giản như nếu cơ chế thị trường không phát triển, thì người dân không có động cơ cạnh tranh, khiến cho trí tưởng tượng sáng tạo không được phát huy và ngày càng teo tóp.

Thứ hai, ngày càng thấy rõ vai trò không thể thiếu được của xã hội dân sự trong sự phát triển của đất nước. Một xã hội phát triển lành mạnh, có tiếng nói và vai trò độc lập với thể chế và thị trường, mới có thể góp phần nâng cao vốn xã hội và qua đó phục vụ lợi ích của cộng đồng ở những việc mà thị trường và nhà nước không hoặc khó làm được tốt.

Chúng ta luôn nói chiến lược phát triển đất nước là chiến lược con người nhưng nếu không chú ý tới hai điểm trên thì thật sự chỉ là lời nói suông, chẳng có mấy tác dụng.

Friday, September 11, 2009

Bảo vệ nhà đầu tư: “Điểm yếu” môi trường kinh doanh

(ĐTCK-online) Trong Báo cáo môi trường kinh doanh 2010 do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 9/9, chỉ số về mức độ thuận lợi kinh doanh của Việt Nam xếp hạng 93 trong số 183 nền kinh tế được khảo sát, tụt 2 bậc so với năm 2008. Đáng chú ý, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư không được cải thiện hơn bao nhiêu, tiếp tục ở nhóm "đội sổ", xếp hạng 172...Chi tiết>>

Bài liên quan:

Thursday, September 10, 2009

Có cần thêm một gói kích cầu thứ hai?

(TuanVietNam)- Gói kích thích kinh tế lần thứ nhất đang dần đến hạn. Dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế dù đã có nhưng còn chậm và chưa thấy tính bền vững. Trong bối cảnh đó, nhiều thành viên trong Hội đồng tư vấn tiền tệ quốc gia cũng như một số kinh tế gia đã gợi ý về một gói kích thích kinh tế lần 2. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2009 - 2010
>> Lạm phát năm 2009 khoảng 8%. TPO - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, theo dự báo của Ngân hàng Nhà nước, lạm phát năm 2009 khoảng 8%; năm 2010, tăng trưởng và lạm phát sẽ diễn ra theo hai kịch bản.
>> Quan điểm điều hành chính sách tiền tệ sắp tới
>> Lãi vay thỏa thuận: Khó duy trì ở mức cao
>> Gói kích cầu thứ hai: Nên đặt trọng tâm vào chính sách tài khoá
>> Gói kích cầu: Tiền đang chảy về đâu?
>> Thận trọng với bài toán tỷ giá
>> Vay kinh doanh bắt đầu khó
>> Gói hỗ trợ lãi suất: "Đệm" thế nào cho... êm?
>> Hạn mức an toàn ngân hàng: Cào bằng hay bóc tách?
>> Xếp hạng doanh nghiệp, sự khởi đầu cần thiết
>> Doanh nghiệp khổ vì... 'đi đêm'
>> Kinh tế toàn cầu trong một năm tồi tệ (phần 2)
>> Kinh tế toàn cầu trong một năm tồi tệ (phần 1)

Wednesday, September 9, 2009

Trăn trở gói kích cầu thứ hai và nguy cơ lạm phát

(Vnplus) Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, Việt Nam nên có gói hỗ trợ thứ hai sau khi gói kích cầu thứ nhất của Chính phủ kết thúc vào cuối năm nay nhưng hỗ trợ như thế nào để tránh lạm phát quay lại là điều đáng phải trăn trở. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Hỗ trợ lãi suất: Cần thực tế hơn
>> Kinh tế toàn cầu trong một năm tồi tệ (phần 1)

Tuesday, September 8, 2009

Nhìn lại gói một, hướng đến gói hai

SGTT - Chính phủ có vẻ đang thiên về một gói kích thích kinh tế thứ hai cho Việt Nam với quy mô nhỏ hơn trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế đang chứng kiến những dấu hiệu hồi phục. Trong khi đó, các phản biện chính sách đang gia tăng đòi hỏi về một tổng kết và sự minh bạch của gói kích cầu thứ nhất đang triển khai, trước khi có gói hai. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> FDI vào bất động sản: Khi dự án “ngấm suy thoái”
>> Việt Nam tụt một bậc trong xếp hạng môi trường kinh doanh 2010
>> Hoạt động tài chính Việt Nam khả quan nhất châu Á
>> Bất động sản: Khoảng lặng kéo dài đến cuối năm?
>> Cựu Chủ tịch FED: “Khủng hoảng sẽ lại xảy ra”

Monday, September 7, 2009

Thursday, September 3, 2009

Dự báo kinh tế: Không thể không...sai!

(VnEc) TS. Võ Trí Thành, Viện phó Viện Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng công tác dự báo kinh tế hiện nay “dự” thế nào cũng đúng và chỉ “dự” được tình hình... thế giới chứ tình hình trong nước thì chỉ theo cách “mình phục mình quá!”. Dự báo, một trong những khâu được coi là mang tính sống còn cho sự phát triển kinh tế đã và đang luôn trong tình trạng khá chênh vênh. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> E ngại hỗ trợ lãi suất
>> Chuyển kích cầu sang kích thích kinh tế
>> Chính sách nào giúp doanh nghiệp sau suy thoái?
>> Không tái cấu trúc quản lý, mọi nỗ lực đều vô nghĩa

Friday, August 28, 2009

Hai kịch bản tăng trưởng và lạm phát năm 2010

(VnEconomy) Xin giới thiệu ý kiến của ông Nguyễn Văn Giàu, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, về kịch bản tăng trưởng và lạm phát năm 2010. Trong bối cảnh kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, hàng loạt quốc gia tiến hành thực hiện những gói kích cầu nhiều nghìn tỷ USD.Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> 'Tôi thuộc nhóm ủng hộ gói kích cầu thứ 2' Ông Lê Đức Thuý.
>> “Tiến thoái lưỡng nan” gói kích cầu thứ 2
>> Kích cầu bằng chính sách tín dụng lãi suất thấp
>> Sáu bài học từ cuộc khủng hoảng

Thursday, August 27, 2009

Kinh tế Việt Nam: Dấu hiệu hồi phục đã rõ nét

(LĐ) - Mặc dù 2 đầu tàu XK và đầu tư đều "nếm đòn" suy giảm mạnh do tác động của khủng hoảng kinh tế, nhưng kết thúc 8 tháng đầu năm nay, dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế khá rõ nét. Dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP năm nay từ 5-5,5% là khả thi. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 'Chúng ta từng sai sót'
>> Thống đốc NHNN: "Đừng kỳ vọng quá nhiều vào các gói hỗ trợ của Chính phủ"
>> Liệu thanh khoản ngân hàng có mất cân đối?
>> Phát hành TPCP bằng ngoại tệ: Rủi ro tiềm ẩn
>> Phát hành TPCP bằng ngoại tệ: Giải pháp hay cũng nên có điểm dừng
>> Doanh nghiệp cần gì ở gói kích cầu lần hai?

Chúng ta đang bỏ phí cơ hội từ khủng hoảng

Tài chính marketing - Gần năm tháng đã trôi qua kể từ khi có Quyết định 443 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay trung và dài hạn. Đến thời điểm hiện nay, số vốn được giải ngân mới khoảng 35.000 tỉ đồng. Là người viết ý tưởng cho gói hỗ trợ vay dài hạn, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, thật sự lo lắng vì các doanh nghiệp chưa “hiểu” hết ý đồ chính sách. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Chính sách kích cầu có nên ‘phanh’ đột ngột?
>> Ngân hàng tiếp tục đối diện với bài toán nguồn vốn
>> Cần thống nhất mặt bằng lãi suất
>> Hỗ trợ vốn trung dài hạn: khó từ hai phía
>> Thị trường: Lời giải cho bài toán xuất khẩu?

Wednesday, August 26, 2009

Kinh tế thế giới sẽ phục hồi hình chữ U, V hay W?

Tài chính marketing -  Những số liệu thống kê thời gian gần đây cho thấy, giai đoạn suy thoái tồi tệ nhất của kinh tế toàn cầu từ thập niên 1930 tới nay có thể đã kết thúc. Chi tiết>>

Saturday, August 22, 2009

Cân bằng kinh tế Trung Quốc như thế nào?

Tài chính marketing - Không phải các nhà kinh tế Trung Quốc và những người hoạch định chính sách của nước này không nhận ra những nguy cơ tiềm ẩn trong mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu của Trung Quốc, cũng như trong thành tích tăng trưởng ấn tượng hiện nay. Nhưng một sự cải cách kinh tế - nói cách khác là tái cân bằng nền kinh tế theo hướng bền vững - đòi hỏi một ý chí chính trị mạnh mẽ mà hiện nay giới lãnh đạo nước này vẫn chưa sẵn sàng. Chi tiết>>

Friday, August 21, 2009

Việt Nam cần tạo thế chủ động cao ngay trong nước

Tài chính marketing - Trong chuyến thăm Việt Nam vào trung tuần tháng 8, GS.TS. James Riedel của trường Quốc tế học cấp cao (SAIS) trực thuộc Đại học Johns Hopkins (Hoa Kỳ) đã dành cho Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần một cuộc trò chuyện xoay quanh thực trạng của nền kinh tế Việt Nam trong cơn biến động của khủng hoảng toàn cầu. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Cơ cấu lại nền kinh tế, không thể làm trong một năm

Thursday, August 13, 2009

Bán cổ phần cho nước ngoài – cần lưu ý gì?

Tài chính marketing -  Khi đầu tư vào một doanh nghiệp thì đương nhiên mọi nhà đầu tư đều muốn tối đa hóa quyền lợi của mình từ việc đầu tư. NĐTNN càng không phải ngoại lệ. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Đóng bớt van tiền tệ. SGTT - Chủ trương điều chỉnh tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại ở mức 25 – 27% và quy định mới về giảm tỷ lệ cho vay trung và dài hạn trên tổng nguồn vốn ngắn hạn từ 40% xuống còn 30% của ngân hàng Nhà nước có thể xem là tín hiệu van tiền tệ sau thời kỳ nới lỏng sẽ được đóng bớt lại. Đích ngắm của các động thái này là ngăn ngừa lạm phát. Tiến sĩ kinh tế Lê Hồng Giang cho rằng, cần tính tới các ảnh hưởng khác từ quy định trên.

Monday, August 10, 2009

Bài toán hậu kích cầu

Tài chính marketing - Để chống suy thoái kinh tế, gói kích cầu của Chính phủ đã và đang phát huy hiệu quả nhất định, câu hỏi làm thế nào để tránh cho ngân sách không rơi vào tình trạng khó khăn, chống nguy cơ tái lạm phát phụ thuộc vào việc Chính phủ triển khai gói kích cầu và thu tiền về lúc hậu kích cầu thế nào. Chi tiết>>

Saturday, August 8, 2009

Chính sách tín dụng cần nhất quán

Tài chính marketing - Thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên tục phát đi tín hiệu về định hướng hãm phanh tăng trưởng tín dụng. Một số ngân hàng thương mại nhà nước hoặc cổ phần do Nhà nước chi phối đã nhận được chỉ thị không được tăng dư nợ vượt quá 25-27% cho năm 2009, tuy nhiên có ngân hàng đã “xài” gần hết chỉ tiêu này trong sáu tháng đầu năm, trong khi từ nay đến cuối năm là mùa cao điểm kinh doanh và chuẩn bị dự trữ phục vụ Tết. Đến nay nhiều ngân hàng đã rục rịch triển khai phương án thắt hầu bao, hạn chế, kể cả dừng cho vay tiêu dùng, tăng cường thu hồi nợ...Chi tiết>>

Wednesday, August 5, 2009

Bất đối xứng thông tin - giải quyết ra sao?

Học marketing - Hy vọng Việt Nam sẽ sớm có một bộ luật về quyền tiếp cận thông tin của người dân và nghĩa vụ cung cấp thông tin của các cơ quan thẩm quyền. Chi tiết>>

Bài liên quan:
>> Thanh khoản và áp lực cân đối vốn
>> Bẫy lạm phát

Monday, August 3, 2009

Nhiều chỉ tiêu kinh tế 2010 dự kiến cao hơn 2009

Tài chính marketing- Việt Nam đang bắt đầu xây dựng kịch bản phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 với một niềm tin ngày càng lớn về sự phục hồi kinh tế thế giới có tác động tích cực tới Việt Nam. Chi tiết>>