Thursday, April 16, 2009

Tôi giữ cách nhìn thận trọng về phục hồi kinh tế

Tôi giữ cách nhìn thận trọng về phục hồi kinh tếTài chính marketing - Chuyên gia kinh tế cao cấp Bùi Kiến Thành cho rằng cần thêm dữ liệu để nhận định về sức khỏe nền kinh tế, và không nên sớm lạc quan khi thấy những biểu hiện nhất thời trên thị trường chứng khoán hay lỗ lãi của ngân hàng.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành. Ảnh: Ngọc Châu- Một số ý kiến gần đây cho rằng nền kinh tế đã xuất hiện tín hiệu hồi phục. Theo ông, dấu hiệu của hồi phục kinh tế sẽ thể hiện trước hết ở đâu? 

- Người ta nhìn vào các chỉ báo chính để biết rằng sức khỏe của nền kinh tế đang ở mức nào. Một trong số đó là chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI), trong quý I/2009 chỉ số này tại Việt Nam tăng 6 điểm so với quý cuối năm 2008, cho thấy đa số nhà quản lý doanh nghiệp vẫn tin vào gia tăng doanh thu và lợi nhuận trong vòng 12 tháng tới. Tiêu dùng nói chung giảm, nhưng tiêu dùng cá thể trong nước vẫn tăng khá.
Tuy vậy, các chỉ số kinh tế vĩ mô khác chưa thực sự lạc quan. Xuất khẩu trong tháng 3 tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, nhưng nhìn vào chi tiết thì thấy là không tăng, mà vẫn đang giảm. Các sản phẩm chiến lược của Việt Nam như dệt may, gỗ, giày dép giảm mạnh, hoặc không tăng. Riêng xuất khẩu đá quý và kim loại có giá trị xuất khẩu bằng gần 5.000% cùng kỳ năm trước. Đúng là Việt Nam xuất siêu, nhưng tái xuất vàng thì không phải là một hoạt động kinh tế đơn thuần. Nhập khẩu giảm xuống, nhưng đáng chú ý là hàng xuất khẩu của Việt Nam có 70-80% nguyên liệu ngoại nhập. Xuất khẩu giảm nên nhập khẩu cũng giảm theo.

Tôi cho rằng cần thận trọng khi nhận định kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng hay chưa, và phải nhìn vào các chỉ số, đặc biệt là dữ liệu về sản xuất của các doanh nghiệp. 

- Ông nghĩ sao về khả năng hồi phục của kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ có tác động lan tỏa tới Việt Nam, nhất là khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ? 

- Chủ tịch FED Ben Bernanke có nói rằng kinh tế Mỹ có khả năng khởi sắc vào cuối năm 2009, nhưng vế thứ hai của nhận định này là "nếu có thể giải quyết tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính Mỹ và thế giới".

Khủng hoảng tại Mỹ bắt nguồn từ việc trái phiếu phái sinh được đảm bảo bởi các hợp đồng cho vay bất động sản (mortgage-backed securities) bị mất thanh khoản và trở nên "nhiễm độc", như cách nói của cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson. Tổng giá trị hợp đồng cho vay bất động sản tại Mỹ lên đến 12.000 tỷ USD. Để bảo hiểm nguy cơ xảy ra nợ xấu, các nhà đầu tư các sản phẩm phái sinh này mua hợp đồng Bảo đảm nợ xấu (Credit Default Swap - CDS). Đến cuối tháng 6/2008, tổng giá trị hợp đồng CDS bên Mỹ là 35.000 tỷ USD, trong khi GDP Mỹ là 14.700 tỷ. Thị trường CDS đem lại lợi nhuận khổng lồ nhưng đã khiến thị trường tín dụng sụp đổ khi các hợp đồng vay biến thành nợ xấu. Đến tháng 10/2008, các định chế tài chính hàng đầu thế giới lâm vào tình trạng phá sản, mọi lĩnh vực kinh tế đều không tiếp cận được vốn vay. Đến nay các chính phủ đã bơm tiền để khuyến khích ngân hàng cho vay, song thị trường vẫn đóng băng.

Chính phủ Mỹ dự định mua lại các khoản nợ xấu bằng gói tài chính 700 tỷ USD, nhưng nay họ không làm nữa. Giá trị các trái phiếu này tại thị trường Mỹ trước đây được xác định khoảng 4.000-5.000 tỷ USD, đến nay Mỹ chưa có giải pháp nào. Khoảng 2.000 tỷ USD trái phiếu do Chính phủ Mỹ phát hành cũng sẽ khó bán, nên FED sẽ phải mua vào, thực chất là in thêm tiền. Việc này lại tạo thêm những hệ lụy. Nhìn chung, các chỉ báo kinh tế tại Mỹ, châu Âu và Nhật vẫn đang đi xuống.

Trung Quốc có lợi thế ở thị trường nội địa rộng lớn và lệ thuộc ít hơn vào thị trường nước ngoài. Họ đang chuyển hướng về nông thôn, và nếu chừng đó nông dân của Trung Quốc ăn nên làm ra, thì sẽ rất thuận lợi cho nền kinh tế của họ. Song ta cần quan sát thêm cách làm của Trung Quốc.

- Nhưng thị trường tài chính Mỹ đã có dấu hiệu tích cực, một số ngân hàng như Citigroup và Wells Fargo báo cáo lãi trong 3 tháng đầu năm nay? 

- Việc những ngân hàng Mỹ báo lãi chỉ là câu chuyện kế toán thôi. Citi nhận 45 tỷ USD hỗ trợ của Chính phủ Mỹ và được bảo đảm cho hơn 300 tỷ USD nợ khó đòi. Năm 2008 họ ghi sổ lỗ trên 20 tỷ USD. Các tài sản nhiễm độc được "khóa sổ" và không tính lại theo giá trị thị trường. Sang quý mới, họ báo lãi, là lãi trong riêng thời điểm này, do được Chính phủ bơm vốn và chưa tính tới số lỗ ghi trong sổ.

- Ông nói gì về con số trên 220.000 tỷ đồng vốn bù lãi suất 4% mà các ngân hàng trong nước báo cáo đã giải ngân trong vòng 2 tháng qua? 

- Con số 220.000 tỷ đồng vốn cho vay đã giải ngân sẽ tương đương 17-18% dư nợ của hệ thống ngân hàng. Nhưng số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy tổng dư nợ chỉ tăng thêm hơn 2%. Tôi cho rằng, vấn đề tiền giải ngân đi đâu và đảo nợ cần được quan tâm.

Đặt giả thiết có chuyện đảo nợ, trong trường hợp đó, ngân hàng vẫn được bù 4% lãi suất, mà lại "làm sạch" được nợ khó đòi trong báo cáo tài chính. Còn doanh nghiệp vay vốn và báo cáo là đưa vào vốn lưu động 8 tháng. Mà việc sử dụng vốn lưu động có đúng mục đích hay không thì kiểm soát không dễ.

Với các nền kinh tế, lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu là những công cụ quan trọng để điều hành lãi suất cho vay trên thị trường. Khi ngân hàng trung ương các nước cung ứng vốn cho ngân hàng thương mại với lãi suất 1-2%, ngân hàng thương mại có thể cho vay với lãi suất 4-5% mỗi năm, mà không cần tới tiền hỗ trợ từ ngân sách để bù lãi suất.

Nếu đảo nợ có thật, mọi chuyện sẽ càng nguy hiểm hơn nếu những đồng vốn đó được chuyển hóa thành đôla để trả nợ cho các hợp đồng nhập khẩu trước đây. Theo chương trình của Chính phủ, doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ lãi suất khi vay vốn bằng tiền đồng, cho sản xuất kinh doanh và đầu tư mới. Thị trường ngoại hối gần đây nóng lên, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu không lớn, cũng là câu hỏi cần có lời giải đáp.

- Diễn biến thị trường chứng khoán sôi nổi trong những ngày gần đây được cho vừa là tín hiệu của hồi phục kinh tế, vừa là kỳ vọng của giới đầu tư về khả năng này. Ông nghĩ sao về dòng tiền đang chảy vào thị trường chứng khoán? 

- Tôi cho rằng cần kiểm tra dòng tiền này. Chưa thể loại trừ khả năng nguồn vốn từ các ngân hàng đã chuyển sang chứng khoán. Chỉ khoảng 5% nguồn vốn này chảy sang chứng khoán, cũng đã là đủ để "tung hoành". 

Thực tế, dù có những phiên tăng điểm, nhưng không có cơ sở kinh tế vĩ mô cho chiều hướng đứng vững và không quay đầu trở xuống. Ngoài ra chứng khoán Mỹ vẫn trong xu thế đi xuống. Chứng khoán trên thị trường Mỹ đã mất 40-50% giá trị, và khi các ngân hàng báo cáo lãi thì mới có những ngày đi lên. Quan trọng là xem căn bản thị trường có những chỉ báo gì. 

Ngọc Châu - Song Linh - VnExpress

Bài liên quan:

Wednesday, April 15, 2009

Nền kinh tế gia công qua bức tranh doanh nghiệp

Doanh nhân Trần Sỹ Nguyên cho rằng để thoát khỏi nền kinh tế gia công, Việt Nam phải mạnh tay giải quyết hai vấn đề quan trọng là sở hữu và cải cách giáo dục. Chi tiết>>

Bài liên quan:
* Gánh nặng của nền kinh tế gia công
* Kích cầu dài hạn có gây lạm phát?

Những điều chưa biết về căn hộ penthouse

Tiếp thị bất động sản - Căn hộ penthouse được nhắc đến khá nhiều trên thị trường bất động sản hiện nay. Đây là khái niệm dùng để chỉ những căn hộ nằm trên tầng cao nhất của một tòa cao ốc, hay còn gọi là căn hộ thông tầng.

Trong kiến trúc, khái niệm penthouse được sử dụng cho cấu trúc nằm phía trên mái của một tòa nhà cao tầng, có tường bao quanh, nhưng không chiếm toàn bộ phần mái. Khi các kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất ở châu Âu nhận ra tiềm năng trong việc tạo những không gian sống ấn tượng, họ đã tận dụng tối đa không gian tầng mái, và triển khai được dạng căn hộ độc đáo có tên là penthouse.

Penthouse bắt đầu thịnh hành từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước, tại nhiều thành phố ở Mỹ. Năm 1923, khi những căn hộ trên tầng mái đầu tiên của tòa nhà Plaza Hotel nổi tiếng nhìn ra Công viên Trung tâm ở New York được đưa vào sử dụng, giới bất động sản toàn thế giới khi đó đã ít nhiều quan tâm đến dạng nhà ở kiểu mới này. Đây chính là thời điểm mở đầu cho một thời kỳ phát triển mạnh các căn hộ dạng penthouse trong những năm sau đó.
Penthouse được thiết kế khác hẳn những căn hộ khác trong cùng tòa nhà, và còn được phân biệt bởi tiêu chí xa hoa, sang trọng. Để phân biệt rõ nhất, penthouse thông thường sẽ gồm từ hai tầng trở lên. Cầu thang dẫn lên các tầng trên hầu hết được bố trí bên trong căn hộ. Những ban công rộng (mái hiên) chạy dọc ngôi nhà là điểm đặc biệt. Đó là những không gian thư giãn hiếm có, nhất là đối với các tòa nhà luôn bị quây bởi kính. Không phải tất cả các căn penthouse đều có những mái hiên như vậy, nhưng chúng luôn là chi tiết thiết kế mà nhiều kiến trúc sư hướng tới.


Một không gian tầng mái có thể được chia thành nhiều căn penthouse, nhưng cũng có nơi, toàn bộ tầng mái chỉ là một căn hộ kiểu thông tầng này. Penthouse có thể được thiết kế đặc biệt, bao gồm rất nhiều chi tiết độc đáo mà không tìm thấy ở bất kỳ căn hộ nào khác trong cùng tòa nhà. Mỗi căn thậm chí còn có lối ra vào riêng, thay vì phải chung đụng với những hộ khác ở bên dưới.

Tầm nhìn từ một căn hộ penthouse ở New York. Ảnh: Proinvest

Những ưu ái khác cũng sẽ được kiến trúc sư đưa vào không gian, chẳng hạn như trần nhà cao, có hệ mái vòm, lò sưởi, tầm nhìn đẹp và thông thoáng, cửa sổ rộng, nhiều phòng, không gian cho văn phòng và nhiều thứ khác nữa... Khu bếp là một trong những nơi thường là niềm tự hào của chủ đầu tư các căn penthouse này, với các thiết bị sang trọng bằng thép không gỉ, mặt đá granite, đảo bếp, quầy bar và nhiều thứ khác nữa.

Sở hữu penthouse là sở hữu cả không gian phía trên cao nên hầu hết những căn hộ này được bán với giá rất đắt, và thường gắn liền với phong cách sống sang trọng. Chính vì vậy, trên thị trường, đôi khi khái niệm penthouse được gắn cho rất nhiều loại nhà khác nhau, và giá cả vì vậy cũng bị thổi phồng lên. Khái niệm penthouse có khi được dùng cho những căn hộ không khác gì các căn còn lại trong tòa nhà, chỉ vì nằm ở tầng trên cao. Chưa hết, thậm chí còn xuất hiện khái niệm "sub-penthouse" để chỉ những căn hộ ở tầng áp chót, gần với penthouse nhất.

Tâm Anh - VnExpress

Ngân hàng giải hạn như thế nào?

Tài chính marketing - Vào thời điểm này năm ngoái, bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều những quan ngại từ các tổ chức tài chính nước ngoài rằng, Việt Nam có thể đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tương tự như Thái Lan năm 1997. Chi tiết>>

Bài liên quan:
* Không dễ huy động vốn trung dài hạn
* Những kịch bản hệ quả
* Tranh mua cổ phiếu tài chính, bất động sản
* Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng kỷ lục
* Giá vàng giảm nhẹ
* Chứng khoán Mỹ giảm điểm

Tuesday, April 14, 2009

Việt Nam tăng trưởng lớn mà không mạnh

Tài chính marketing - Mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đang bị thách thức nghiêm trọng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Giống như một cơ thể to lớn không khỏe mạnh.

Trong thông cáo phát tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh ngày 26/3 vừa qua, một con số ấn tượng đã được công bố: cấp phép cho các dự án FDI trị giá 2 tỷ USD trong khuôn khổ hội nghị. Thực tế chỉ có 3 dự án trị giá hơn 100 triệu USD được ghi nhận là được cấp phép trong khuôn khổ của hội nghị này. Tuy vậy, ngay hôm đó và cả ngày hôm sau, nhiều tờ báo ở Việt Nam cũng vẫn đăng tải có đến 2 tỷ USD vốn FDI đã được cấp phép chỉ trong một ngày.

Thật khó mà trách những người có trách nhiệm đã đưa ra tin này cũng như các phóng viên đưa tin. Thực ra tất cả mọi người đều muốn làm một điều gì đó tích cực nhằm cổ vũ cho những nỗ lực thu hút FDI vốn đang chậm lại do khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Trên thực tế, tình hình có vẻ khá bi quan. Chỉ một ngày trước đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phát đi thông điệp đáng lo ngại: FDI vào Việt Nam chỉ đạt 700 triệu trong tháng 3. Giáo sư, Tiến sỹ Kenichi Ohno của Diễn đàn Phát triển Việt Nam, người đã bắt đầu nghiên cứu kinh tế Việt Nam từ năm 1995 nhận định rằng, Việt Nam khó mà thu hút được nhiều FDI trong bối cảnh hiện tại.

Ông nói với doanh nghiệp: “Các nhà đầu tư nước ngoài không còn hứng thú mở rộng đầu tư, kinh doanh. Trong ngắn hạn thì chả có ai hứng thú đầu tư vào bất kỳ cái gì. Tôi nghĩ hiện tại Việt Nam khó mà huy động được vốn từ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Mỹ vào bất kỳ ngành nào ở đây. Mọi người đang chờ đợi xem điều gì tồi tệ sẽ xảy ra ở Mỹ, hay Nhật Bản, hay EU. Tôi nghĩ tâm lý của các nhà đầu tư hiện tại là rất tiêu cực. Bất kỳ nỗ lực nào mà Chính phủ cố gắng làm sẽ không giúp được nhiều”.

Giáo sư kể rằng, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, nhất là loại xuất khẩu sản phẩm 100% đang rất khó khăn. Các doanh nghiệp chuyên sản xuất linh kiện điện tử phải cắt giảm đến 50% công suất. Tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu như Canon, Panasonic đang chịu ảnh hưởng bởi kinh tế toàn cầu, nhưng họ không thể chuyển sang thị trường nội địa của Việt Nam. Trong khi đó, các công ty mẹ của họ ở Nhật Bản cũng đang rất khó khăn. “Tôi nghĩ tình hình là rất xấu”, ông nói.

Phát triển sân golf rầm rộ ở nhiều địa phương cũng là một ví dụ về phát triển thiếu
quy hoạch và tính toán kỹ lưỡng ở Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà 

Chủ tịch Tập đoàn đầu tư Sài Gòn Đặng Thành Tâm, người hiện sở hữu rất nhiều khu công nghiệp trên khắp Việt Nam cho biết, hầu hết những nhà máy đang lắp đặt, hay chuẩn bị đưa vào sản xuất đều ngưng lại. “Khách hàng của chúng tôi, những doanh nghiệp đã xây xong nhà máy thì tạm ngừng, chưa lắp đặt máy móc thiết bị. Nhìn chung, tỷ lệ ngưng trệ phải đến 50%. Tập đoàn Foxconn chẳng hạn, họ cam kết đầu tư 5 tỷ USD, nhưng bỏ vào chưa được 20%, và cũng đang tạm dừng đầu tư”, ông phát biểu trên một tờ báo gần đây.

Ông Tâm nhận xét thêm, vốn FDI giải ngân trong quý I năm nay là khoảng 1,4 tỷ USD, trong khi vốn đăng ký vào các nhà máy sản xuất công nghiệp rất chậm, bất động sản rất ít, nếu có, chỉ là đăng ký giữ chỗ. “Tôi cho rằng FDI sẽ giảm đi rất nhiều trong thời gian tới”, ông nói.

Cơ quan cấp phép đầu tư biết ông Tâm, và chắc chắn biết rõ tình hình thực tế của các dự án FDI đang triển khai. Tuy vậy, họ vẫn muốn có được một con số FDI lạc quan. Đơn giản là, luồng vốn này đã trở thành một động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.

Một tính toán sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tiết kiệm nội địa của Việt Nam so với GDP đã sụt giảm từ 30,6% năm 2006 xuống 29,1% năm 2007 và 28,8% năm 2008, tương ứng với mức gia tăng của tiêu dùng cuối cùng. Điều này có nghĩa là, tỷ lệ thâm hụt tiết kiệm nội địa/đầu tư so với GDP của Việt Nam ngày càng gia tăng, từ mức khoảng -11,7% năm 2006 lên -16,5% năm 2007 và -14,3% năm 2008.

Nói một cách đơn giản, Việt Nam đang đầu tư nhiều hơn so với các khoản tiền tiết kiệm được, và như vậy là khác với mô hình của các nước khác ở châu Á như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), đây là những quốc gia có thặng dư giữa tiết kiệm nội địa so với đầu tư ở mức khá cao.

Một điểm nữa, theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn FDI giải ngân đang tăng cao đáng kể, từ 15,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong năm 2006 lên 24,8% năm 2007 và ước đạt 24,7% năm 2008.

Những con số này cho thấy thực tế Việt Nam đang ngày càng dựa nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài để chi trả cho đầu tư trong nước; và vì lẽ đó, mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, dự kiến sẽ suy giảm do khủng khoảng tài chính toàn cầu, ít nhất là trong ngắn hạn.

Điều này phù hợp với những diễn biến trên thực tế. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt mục tiêu giải ngân khoảng 11-12 tỷ USD FDI. Cùng thời gian này, Chính phủ đã đặt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2009 là 6,5%. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong Hội nghị các nhà tài trợ thời gian đó: “Tôi nhấn mạnh khoảng 6,5% cũng có ý là trong điều kiện thuận lợi thì chúng tôi có thể đạt 6,5% hoặc vượt. Còn trường hợp khó khăn thì chúng tôi phấn đấu giữ tăng trưởng dưới 6,5% nhưng không thấp quá để ổn định kinh tế vĩ mô”.

Ba tháng sau, tình hình có vẻ khác, khi Chính phủ đã công bố điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng xuống 5% và dự kiến trình Quốc hội tháng 5 tới, trong khi mục tiêu giải ngân FDI cũng được điều chỉnh xuống khoảng 8 tỷ USD.

Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư của Nhà nước vẫn còn rất cao, chiếm khoảng gần nửa tổng vốn đầu tư toàn xã hội (41 - 46%) trong giai đoạn 2006 - 2008. Các nhà kinh tế cho rằng, xét trên các chuẩn mực quốc tế, những chỉ số này cho thấy, ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam không được chú trọng nhiều bằng mục tiêu tăng trưởng.

Bằng chứng là, nhiều chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ trong những năm qua chủ yếu tập trung cho một mục tiêu chung là kích thích mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng đầu tư.

Tuy vậy, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực nhà nước không cao mà các biểu hiện là đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, sử dụng vốn kém hiệu quả, chậm tiến độ thi công, nợ đọng vốn xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp nhà nước lớn đầu tư vào các ngành không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính đã trở thành một nguy cơ ngày càng lớn.

Từ nhiều năm nay, mục tiêu tăng trưởng GDP đã đương nhiên trở thành con số pháp lệnh, và vì thế nhiều nguồn lực đã được đổ ra để hiện thực hóa nó. Tuy vậy, đây là điều không thể làm được với các nhà đầu tư nước ngoài. Những người có trách nhiệm có thể sẽ không phải giải thích về con số 2 tỷ USD cấp trong ngày 26/3, vì có lẽ nó sẽ được bù đắp bằng những dự án cấp trong thời gian tới. Nhưng rõ ràng rằng, đó không phải là cách bù đắp cho tính dễ bị tổn thương mà mô hình tăng trưởng này có thể gây ra.

Sunday, April 12, 2009

Các kịch bản hồi phục kinh tế

Tài chính marketing - Trước tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế đều bị suy giảm (như Trung Quốc, Việt Nam) hay suy thoái, tức tăng trưởng âm (như Mỹ, châu Âu hay Singapore), các nhà kinh tế phân loại các kịch bản hồi phục kinh tế mô phỏng theo các chữ viết hoa như sau:

1. Kịch bản hồi phục theo hình chữ V

Theo kịch bản này, tăng trưởng kinh tế suy giảm nhanh và hồi phục ngay, thời gian nền kinh tế ở dưới đáy rất ngắn, thường ít hơn một năm. Đây là kịch bản lạc quan nhất, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã dự báo mô hình này cho nền kinh tế toàn cầu trong dự báo tháng 1-2009 (xem đồ thị 1).

Chữ V không nhất thiết phải cân đối, có thể đường hồi phục chậm hơn đường suy thoái, song chắc chắn đây là kịch bản tối ưu mà các nền kinh tế đều kỳ vọng và hướng tới.

2. Kịch bản hồi phục hình chữ U

Theo kịch bản này, nền kinh tế phải vật lộn ở dưới đáy lâu hơn kịch bản 1, thường là hơn một năm, tùy theo chữ U này béo hay gầy. Đây là kịch bản biến thể của kịch bản trên nhưng sát với thực tế hơn vì thời gian để tái cơ cấu, hay cải cách kinh tế có độ trễ nhất định, không thể phát huy hiệu lực ngay. Kịch bản hình chữ U này cũng được coi là kịch bản tốt, cần đạt tới.

3. Kịch bản hồi phục hình chữ W

Theo kịch bản này, nền kinh tế có thể hồi phục rồi lại suy giảm hay suy thoái một hay vài lần trước khi đạt được mức tăng trưởng tương đối ổn định. Theo đó, chúng ta có thể có 1 hay 1,5 hoặc 2 chữ W vì việc cải cách và tái cấu trúc nền kinh tế rất phức tạp. Có những vấn đề chậm được phát hiện hay chậm được cải cách do có xung đột lợi ích và lợi ích nhóm, chính vì thế mà quá trình hồi phục diễn ra không dễ dàng, suôn sẻ.

4. Kịch bản hồi phục chữ L

Đây là kịch bản bi quan nhất, sau khi suy thoái, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng thấp hoặc ở dưới đáy trong nhiều năm. Kinh tế Nhật Bản là ví dụ điển hình cho kịch bản này với cả thập kỷ trì trệ trong những năm cuối của thế kỷ 20.

Một số dự báo

Phân tích bản chất phức tạp, nhiều mặt của cuộc khủng hoảng hiện nay, rất nhiều vấn đề cơ bản liên quan đến mô hình kinh tế, vai trò của nhà nước, chức năng và hiệu lực giám sát đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng, các công ty tư vấn đánh giá và xếp hạng uy tín của doanh nghiệp, mô hình toàn cầu hóa với sự kết nối tài chính, xuất khẩu, đầu tư nước ngoài... cần phải được đánh giá, xem xét lại và định hình mới.




Nhiều nhà kinh tế dự báo cuộc khủng hoảng này có thể kéo dài nhiều năm, có thể là một thập kỷ. Nhà kinh tế Jeffrey Sachs còn cho rằng cuộc khủng hoảng sẽ đồng hành với chúng ta trong cả một thế hệ tới do có quá nhiều việc phức tạp phải thiết kế, thống nhất và tổ chức thực hiện. Vì vậy, kịch bản chữ V được coi là ít hiện thực mà các biến thể hình chữ U hay chữ W được coi là hiện thực hơn.

Kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ hồi phục, song không thể nhanh vì mô hình tiêu dùng dựa trên vay mượn, thấu chi thẻ tín dụng, nhập siêu... chắc chắn sẽ phải điều chỉnh. Các hoạt động của ngân hàng thương mại, chứng khoán, công ty đầu tư mạo hiểm, công ty tư vấn xếp hạng tín nhiệm... sẽ phải điều chỉnh. Vai trò của Mỹ sẽ bị suy giảm tương đối trên thế giới, song suy giảm đến mức nào thì cần phải tiếp tục đánh giá, phân tích.

Quỹ Tiền tệ quốc tế cho rằng kinh tế Mỹ và thế giới có thể hồi phục theo hình chữ V, đường đỏ là không có gói kích thích, đường xanh là có gói kích thích (đồ thị 2).

Kinh tế Trung Quốc có thể hồi phục sớm hơn Mỹ, nhưng có nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng kinh tế nước này có thể hồi phục theo hình chữ W. Lý giải điều này, nhà kinh tế trên cho rằng bên cạnh những mặt mạnh như lượng dự trữ ngoại tệ lớn nhất hành tinh, tới gần 2.000 tỉ đô la Mỹ, xuất siêu, tỷ lệ tiết kiệm cao, lạm phát thấp, ngân sách cơ bản cân đối, thị trường nội địa rộng lớn, kinh tế Trung Quốc cũng còn nhiều vấn đề nội bộ gay gắt như tình trạng kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng thương mại quốc doanh, chênh lệch giàu - nghèo nghiêm trọng, tam nông có nhiều vấn đề gay gắt... nên có thể hồi phục rồi sẽ lại suy giảm rồi lại hồi phục.

Cũng cần lưu ý hiệu ứng lan tỏa (spill-over effect) của kinh tế Trung Quốc thấp, cơ cấu kinh tế Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với kinh tế Việt Nam nên sự hồi phục sớm của kinh tế Trung Quốc, bên cạnh một số tác động tích cực nhất định có thể có (như tăng nhập khẩu, đầu tư vào Việt Nam), sẽ tạo sức ép cạnh tranh mạnh hơn đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, da giày, điện tử dân dụng cũng như trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài.

Kinh tế Singapore có khả năng hồi phục theo hình chữ L mặc dù Singapore có chính phủ mạnh, có tiềm lực, song Singapore quá phụ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới.

Kịch bản hồi phục nào cho kinh tế Việt Nam?

Trong quá khứ, kinh tế Việt Nam đã hồi phục tương đối nhanh từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, trong đó vai trò ổn định của nông nghiệp rất rõ nét (xem đồ thị 3).

Liệu kỳ này kinh tế Việt Nam có lặp lại kịch bản cũ không? Điều này tùy thuộc vào quyết tâm cải cách của Nhà nước, của cộng đồng doanh nghiệp và cũng tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế thế giới (vì kinh tế nước ta có tỷ lệ xuất khẩu và đầu tư nước ngoài rất lớn). Như vậy, niềm hy vọng về sự hồi phục kinh tế ngay trong tháng 5, tháng 6 này chỉ có thể diễn ra trên một số lĩnh vực cục bộ chứ chưa thể ở phạm vi toàn nền kinh tế.

Trong số các kịch bản nói trên, Việt Nam nhất thiết phải tránh kịch bản chữ L, vì nếu như vậy sẽ gây ra rất nhiều tiêu cực về kinh tế, xã hội và những hệ lụy chiến lược đối với Việt Nam là rất bất lợi.

Để thực hiện được kịch bản chữ V hay chữ U đòi hỏi Chính phủ phải sớm có một đánh giá tác động của khủng hoảng đến các mặt kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó đề ra chương trình tổng thể về cải cách và tái cơ cấu nền kinh tế. Chương trình này phải được đưa ra toàn xã hội đóng góp ý kiến, được tổ chức thực hiện có hiệu lực, được Quốc hội và các tổ chức xã hội giám sát, công bố công khai cho toàn dân biết để cùng thực hiện, cùng giám sát.

Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh những vấn đề gai góc như tham nhũng, lợi ích nhóm, các vấn đề của các tập đoàn độc quyền... Nếu không làm như vậy, rất có thể kịch bản hình chữ W sẽ trở thành hiện thực. Sau khi hồi phục nhanh ở một số lĩnh vực nhất định, tăng trưởng có thể bị suy giảm vì những yếu kém bộc lộ ra trong khi kinh tế khu vực và thế giới sẽ có thay đổi rất sâu sắc. Đó là kịch bản Việt Nam cũng cần phải tránh và chúng ta còn có thời gian và tiềm lực để tránh.

LÊ ĐĂNG DOANH (*) - TBKTSG
(*) Viện Nghiên cứu phát triển (IDS), Hà Nội

Bài liên quan:
* Đảo nợ: rủi ro đạo đức và hàm ý chính sách
* Chi tiêu hợp lý thời khủng hoảng
* Kích thích tài chính thực sự là bao nhiêu?

Saturday, April 11, 2009

Tiến trình hồi phục kinh tế toàn cầu còn kéo dài

Tài chính marketing - Với trên 40 năm kinh nghiệm giảng dạy bộ môn kinh tế, TS Nguyễn Trường từng là giám đốc các dự án nghiên cứu thuộc Viện RIHED và Giáo sư thỉnh giảng Đại học Nanyang (Singapore). Chi tiết>>

Bài liên quan:
* 100 nhà kinh tế ngồi trên kim tự tháp ngược
* 100 nhà kinh tế và bánh đậu xanh Hải Dương