Sunday, May 10, 2009

Tháng Năm, kinh tế Việt Nam hồi phục?

Hai kinh tế gia hàng đầu của Việt Nam cho rằng tuyên bố trước đây của lãnh đạo chính phủ về kinh tế Việt Nam hồi phục trong tháng Năm có thể đã quá lạc quan. Chi tiết>>

Bài liên quan:
* Năng lực kích cầu của Việt Nam còn thấp

Dấu hiệu kinh tế phục hồi: Cần tránh “ông nói gà, bà nói vịt”

Dấu hiệu kinh tế phục hồi: Cần tránh “ông nói gà, bà nói vịt”Tài chính marketing - Khi dấu hiệu hồi phục chưa rõ ràng thì những thông điệp và cách điều hành nền kinh tế cần thận trọng.

Khuyến nghị này được TS. Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, đưa ra trong cuộc trao đổi mới đây với VnEconomy.

Ông nói: 

- Việc những chỉ số của nền kinh tế đã có bước cải thiện hơn so với hồi đầu năm là một điều tốt, nhưng đó cũng là bình thường. Chẳng hạn như GDP, trong quý 1 là quý có tết Nguyên đán thì sản xuất bị ngưng lại nên tăng trưởng chỉ đạt 3,1% là dễ hiểu. Nhưng đến quý 2, khi mà mọi hoạt động của nền kinh tế đã quay trở lại và nhu cầu về tiêu dùng, xây dựng…có chiều hướng tăng lên thì GDP tiếp tục tăng lên cũng là điều bình thường.

Một số chỉ số khác như: xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp… đang có dấu hiệu tăng trưởng tốt là đáng mừng. Song chúng ta cũng phải chú ý rằng, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam 4 tháng đầu năm nay, biểu hàng xuất khẩu chỉ có 6 mặt hàng: vàng bạc, gạo, chè, hạt tiêu, sắn, hàng dệt may là tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2008, nhưng đến 50% số lượng mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng không đáng kể.

Không nên lạc quan tếu

Liệu nền kinh tế đang chuyển biến tốt và có dấu hiệu hồi phục, như một số nhận xét thời gian gần đây, thưa ông?

Để nói rằng những chỉ số tăng trưởng tốt đó là dấu hiệu của hồi phục kinh tế hay chưa, là một vấn đề cần phải thận trọng và cần phải có tiêu chí rõ ràng. Chẳng hạn chúng ta phải nói rõ là GDP tăng trưởng như thế nào thì nền kinh tế mới thực sự hồi phục; mức độ tăng trưởng tín dụng là bao nhiêu, mức độ tạo công ăn việc làm là bao nhiêu; số người thất nghiệp đã giảm hay chưa…

Tất cả những tiêu chí đó đều phải được đưa ra thảo luận, nếu không thì rất dễ xảy ra tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”, tức là người thì cho là đã hồi phục, người thì bảo chưa, như vậy sẽ làm rối loạn thêm cho nền kinh tế cũng như là các doanh nghiệp.

Hơn nữa, đến thời điểm này, trên thế giới không có một tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nào dám khẳng định rằng họ đã vượt qua đáy khủng hoảng rồi. Tất cả các tuyên bố đều nói rằng, tình hình tiếp tục phức tạp và có thể là cuối năm nay thì kinh tế thế giới có cải thiện, mức tăng trưởng âm có thể giảm đi một tý, chứ không có nghĩa là đã tăng trưởng dương rồi.

Nền kinh tế Việt Nam xuất khẩu chiếm đến 72% GDP, còn nhập khẩu và dịch vụ thì chiếm trên 100% GDP, thì rõ ràng chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào kinh tế thế giới, trong khi các nền kinh tế lớn vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục.

Chính vì thế, nếu nói rằng chúng ta có khả năng hồi phục sớm thì cũng phải nói rõ là hồi phục như thế nào, hồi phục lĩnh vực gì… Theo tôi, điều kiêng kị nhất lúc này là tránh lạc quan tếu, tức là tránh đưa ra những thông điệp quá dễ dãi, như tháng mấy sẽ tăng trưởng trở lại, tháng mấy, tháng mấy sẽ hồi phục...

Tôi chỉ xin lấy ví dụ, Singapore họ nói thẳng là năm nay họ sẽ tăng trưởng âm 8% và mức độ trì trệ do khủng hoảng sẽ kéo dài khoảng 6 năm, để Chính phủ và người dân cùng chuẩn bị tinh thần. Thủ tướng của họ tự trừ vào lương 15% trong suốt thời gian đó.

Với đặc điểm của người dân Việt Nam là khá cầu thị và thực dụng, tôi nghĩ chúng ta cũng nên có một thông điệp theo hướng khuyến cáo tình hình vẫn còn khó khăn, để mọi người cùng nỗ lực thì mới mong nhanh chóng bước ra khỏi cuộc khủng hoảng này.

Còn nếu chúng ta tạo ra một mối lạc quan tếu, cho rằng mọi việc đã “phơi phới” rồi, trong khi tình hình chưa có chuyển biến nhiều thì sẽ rất nguy hại. Chúng ta cần phải nghiêm túc với khẩu hiệu: “nhìn thẳng vào sự thật, hiểu rõ sự thật và nói đúng sự thật”.

Vậy, theo ông thì nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới sẽ rơi vào mô hình nào trong 4 mô hình hồi phục kinh tế mà các chuyên gia đưa ra vừa qua?

Theo tôi, mô hình mà chúng ta nên tránh và có thể tránh được là mô hình chữ “L”, tức là nằm mãi dưới đáy mà không thoát lên được, giống như Singaore và Nhật Bản. Chúng ta có một nền nông nghiệp khá hiệu quả vì các sản phẩm này có thị trường khắp thế giới và phù hợp với diều kiện suy thoái kinh tế.

Do vậy, với điều kiện chúng ta có cải cách mạnh mẽ, đổi mới cấu trúc của nền kinh tế thì có thể kinh tế sẽ tăng trưởng theo hình chữ “V” và đây là kịch bản mơ ước.

Nhưng quan điểm của tôi thì khả năng dễ xảy ra nhất của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng theo chữ “W”, tức là vẫn có lên, rồi lại xuống, lại lên… do cách điều hành, quản lý và triển khai thực hiện của chúng ta vẫn chưa ổn định và còn nhiều điều phải bàn.

Nhưng nhiều chuyên gia lo ngại rằng, khi mà các gói kích cầu liên tục được thực hiện thì khả năng quay trở lại lạm phát cũng rất lớn?

Đúng vậy, theo tôi thì những tín hiệu về chính sách tiền tệ là rất cần phải chú ý, bởi hiện nay tổng cung của phương tiện thanh toán đã tăng lên 11,4 %, cao hơn rất nhiều so với 5,3% của cùng kỳ năm ngoái. Như vậy có nghĩa là chúng ta đã bơm tiền tăng cung tín dụng rất nhiều.

Bên cạnh đó, nếu giá dầu tiếp tục tăng lên, kéo theo một số mặt hàng khác tăng theo thì khả năng quay trở lại của lạm phát là hoàn toàn có thể.

Cần xem lại điều hành giá

Hiện nay, chúng ta đang nỗ lực chống suy giảm kinh tế, nhưng đồng thời Nhà nước lại liên tiếp cho tăng giá xăng dầu. Theo ông điều này có hợp lý hay không?

Đây là một vấn đề cần phải được làm rõ. Trước đây, khi giá xăng thế giới là 147 USD/thùng thì giá xăng trong nước là 14.000 đồng/lít. Thế nhưng, hiện nay giá xăng thế giới là 55 USD/thùng thì chúng ta lại tiếp tục cho tăng giá xăng lên 12.500 đồng/lít.

Thử hỏi, nếu giá xăng thế giới chỉ cần tăng thêm 20 USD/thùng nữa thì chắc chắn giá xăng trong nước sẽ lại tiếp tục leo thang. Hơn nữa, so với giá xăng của Trung Quốc và các nước trong khu vực thì giá xăng của chúng ta đã cao hơn rất nhiều rồi.

Do vậy, trong bối cảnh kinh tế đang khó khăn như hiện nay, nếu cứ liên tục tăng giá đầu vào thì chỉ có “phép màu” mới giúp các doanh nghiệp của chúng ta có thể cạnh tranh được.

Ngoài ra, giá điện của chúng ta cũng có vấn đề, đặc biệt là cách tính giá điện cao điểm vào buổi sáng. Hiện nay, điện vẫn là sản phẩm độc quyền, họ muốn tăng giá để gây sức ép cho các doanh nghiệp tránh giờ cao điểm đó, nhưng họ lại không thể đưa ra cho doanh nghiệp một lối thoát khả thi.

Tức là ông cho rằng, việc tăng giá điện, giá xăng liên tục là đi ngược lại với mục tiêu chống suy giảm kinh tế?

Cái đó thì cũng đã có nhiều ý kiến rồi. Còn theo tôi, việc tăng giá này còn đi ngược lại với mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu giữ ổn định đời sống của nhân dân, bởi đơn giản, giá xăng lên thì chắc chắn giá các hàng hóa khác, giá vận tải cũng sẽ tăng theo.
Từ Nguyên - VnEconomy

Thursday, April 16, 2009

Tôi giữ cách nhìn thận trọng về phục hồi kinh tế

Tôi giữ cách nhìn thận trọng về phục hồi kinh tếTài chính marketing - Chuyên gia kinh tế cao cấp Bùi Kiến Thành cho rằng cần thêm dữ liệu để nhận định về sức khỏe nền kinh tế, và không nên sớm lạc quan khi thấy những biểu hiện nhất thời trên thị trường chứng khoán hay lỗ lãi của ngân hàng.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành. Ảnh: Ngọc Châu- Một số ý kiến gần đây cho rằng nền kinh tế đã xuất hiện tín hiệu hồi phục. Theo ông, dấu hiệu của hồi phục kinh tế sẽ thể hiện trước hết ở đâu? 

- Người ta nhìn vào các chỉ báo chính để biết rằng sức khỏe của nền kinh tế đang ở mức nào. Một trong số đó là chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI), trong quý I/2009 chỉ số này tại Việt Nam tăng 6 điểm so với quý cuối năm 2008, cho thấy đa số nhà quản lý doanh nghiệp vẫn tin vào gia tăng doanh thu và lợi nhuận trong vòng 12 tháng tới. Tiêu dùng nói chung giảm, nhưng tiêu dùng cá thể trong nước vẫn tăng khá.
Tuy vậy, các chỉ số kinh tế vĩ mô khác chưa thực sự lạc quan. Xuất khẩu trong tháng 3 tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, nhưng nhìn vào chi tiết thì thấy là không tăng, mà vẫn đang giảm. Các sản phẩm chiến lược của Việt Nam như dệt may, gỗ, giày dép giảm mạnh, hoặc không tăng. Riêng xuất khẩu đá quý và kim loại có giá trị xuất khẩu bằng gần 5.000% cùng kỳ năm trước. Đúng là Việt Nam xuất siêu, nhưng tái xuất vàng thì không phải là một hoạt động kinh tế đơn thuần. Nhập khẩu giảm xuống, nhưng đáng chú ý là hàng xuất khẩu của Việt Nam có 70-80% nguyên liệu ngoại nhập. Xuất khẩu giảm nên nhập khẩu cũng giảm theo.

Tôi cho rằng cần thận trọng khi nhận định kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng hay chưa, và phải nhìn vào các chỉ số, đặc biệt là dữ liệu về sản xuất của các doanh nghiệp. 

- Ông nghĩ sao về khả năng hồi phục của kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ có tác động lan tỏa tới Việt Nam, nhất là khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ? 

- Chủ tịch FED Ben Bernanke có nói rằng kinh tế Mỹ có khả năng khởi sắc vào cuối năm 2009, nhưng vế thứ hai của nhận định này là "nếu có thể giải quyết tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính Mỹ và thế giới".

Khủng hoảng tại Mỹ bắt nguồn từ việc trái phiếu phái sinh được đảm bảo bởi các hợp đồng cho vay bất động sản (mortgage-backed securities) bị mất thanh khoản và trở nên "nhiễm độc", như cách nói của cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson. Tổng giá trị hợp đồng cho vay bất động sản tại Mỹ lên đến 12.000 tỷ USD. Để bảo hiểm nguy cơ xảy ra nợ xấu, các nhà đầu tư các sản phẩm phái sinh này mua hợp đồng Bảo đảm nợ xấu (Credit Default Swap - CDS). Đến cuối tháng 6/2008, tổng giá trị hợp đồng CDS bên Mỹ là 35.000 tỷ USD, trong khi GDP Mỹ là 14.700 tỷ. Thị trường CDS đem lại lợi nhuận khổng lồ nhưng đã khiến thị trường tín dụng sụp đổ khi các hợp đồng vay biến thành nợ xấu. Đến tháng 10/2008, các định chế tài chính hàng đầu thế giới lâm vào tình trạng phá sản, mọi lĩnh vực kinh tế đều không tiếp cận được vốn vay. Đến nay các chính phủ đã bơm tiền để khuyến khích ngân hàng cho vay, song thị trường vẫn đóng băng.

Chính phủ Mỹ dự định mua lại các khoản nợ xấu bằng gói tài chính 700 tỷ USD, nhưng nay họ không làm nữa. Giá trị các trái phiếu này tại thị trường Mỹ trước đây được xác định khoảng 4.000-5.000 tỷ USD, đến nay Mỹ chưa có giải pháp nào. Khoảng 2.000 tỷ USD trái phiếu do Chính phủ Mỹ phát hành cũng sẽ khó bán, nên FED sẽ phải mua vào, thực chất là in thêm tiền. Việc này lại tạo thêm những hệ lụy. Nhìn chung, các chỉ báo kinh tế tại Mỹ, châu Âu và Nhật vẫn đang đi xuống.

Trung Quốc có lợi thế ở thị trường nội địa rộng lớn và lệ thuộc ít hơn vào thị trường nước ngoài. Họ đang chuyển hướng về nông thôn, và nếu chừng đó nông dân của Trung Quốc ăn nên làm ra, thì sẽ rất thuận lợi cho nền kinh tế của họ. Song ta cần quan sát thêm cách làm của Trung Quốc.

- Nhưng thị trường tài chính Mỹ đã có dấu hiệu tích cực, một số ngân hàng như Citigroup và Wells Fargo báo cáo lãi trong 3 tháng đầu năm nay? 

- Việc những ngân hàng Mỹ báo lãi chỉ là câu chuyện kế toán thôi. Citi nhận 45 tỷ USD hỗ trợ của Chính phủ Mỹ và được bảo đảm cho hơn 300 tỷ USD nợ khó đòi. Năm 2008 họ ghi sổ lỗ trên 20 tỷ USD. Các tài sản nhiễm độc được "khóa sổ" và không tính lại theo giá trị thị trường. Sang quý mới, họ báo lãi, là lãi trong riêng thời điểm này, do được Chính phủ bơm vốn và chưa tính tới số lỗ ghi trong sổ.

- Ông nói gì về con số trên 220.000 tỷ đồng vốn bù lãi suất 4% mà các ngân hàng trong nước báo cáo đã giải ngân trong vòng 2 tháng qua? 

- Con số 220.000 tỷ đồng vốn cho vay đã giải ngân sẽ tương đương 17-18% dư nợ của hệ thống ngân hàng. Nhưng số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy tổng dư nợ chỉ tăng thêm hơn 2%. Tôi cho rằng, vấn đề tiền giải ngân đi đâu và đảo nợ cần được quan tâm.

Đặt giả thiết có chuyện đảo nợ, trong trường hợp đó, ngân hàng vẫn được bù 4% lãi suất, mà lại "làm sạch" được nợ khó đòi trong báo cáo tài chính. Còn doanh nghiệp vay vốn và báo cáo là đưa vào vốn lưu động 8 tháng. Mà việc sử dụng vốn lưu động có đúng mục đích hay không thì kiểm soát không dễ.

Với các nền kinh tế, lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu là những công cụ quan trọng để điều hành lãi suất cho vay trên thị trường. Khi ngân hàng trung ương các nước cung ứng vốn cho ngân hàng thương mại với lãi suất 1-2%, ngân hàng thương mại có thể cho vay với lãi suất 4-5% mỗi năm, mà không cần tới tiền hỗ trợ từ ngân sách để bù lãi suất.

Nếu đảo nợ có thật, mọi chuyện sẽ càng nguy hiểm hơn nếu những đồng vốn đó được chuyển hóa thành đôla để trả nợ cho các hợp đồng nhập khẩu trước đây. Theo chương trình của Chính phủ, doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ lãi suất khi vay vốn bằng tiền đồng, cho sản xuất kinh doanh và đầu tư mới. Thị trường ngoại hối gần đây nóng lên, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu không lớn, cũng là câu hỏi cần có lời giải đáp.

- Diễn biến thị trường chứng khoán sôi nổi trong những ngày gần đây được cho vừa là tín hiệu của hồi phục kinh tế, vừa là kỳ vọng của giới đầu tư về khả năng này. Ông nghĩ sao về dòng tiền đang chảy vào thị trường chứng khoán? 

- Tôi cho rằng cần kiểm tra dòng tiền này. Chưa thể loại trừ khả năng nguồn vốn từ các ngân hàng đã chuyển sang chứng khoán. Chỉ khoảng 5% nguồn vốn này chảy sang chứng khoán, cũng đã là đủ để "tung hoành". 

Thực tế, dù có những phiên tăng điểm, nhưng không có cơ sở kinh tế vĩ mô cho chiều hướng đứng vững và không quay đầu trở xuống. Ngoài ra chứng khoán Mỹ vẫn trong xu thế đi xuống. Chứng khoán trên thị trường Mỹ đã mất 40-50% giá trị, và khi các ngân hàng báo cáo lãi thì mới có những ngày đi lên. Quan trọng là xem căn bản thị trường có những chỉ báo gì. 

Ngọc Châu - Song Linh - VnExpress

Bài liên quan:

Wednesday, April 15, 2009

Nền kinh tế gia công qua bức tranh doanh nghiệp

Doanh nhân Trần Sỹ Nguyên cho rằng để thoát khỏi nền kinh tế gia công, Việt Nam phải mạnh tay giải quyết hai vấn đề quan trọng là sở hữu và cải cách giáo dục. Chi tiết>>

Bài liên quan:
* Gánh nặng của nền kinh tế gia công
* Kích cầu dài hạn có gây lạm phát?

Những điều chưa biết về căn hộ penthouse

Tiếp thị bất động sản - Căn hộ penthouse được nhắc đến khá nhiều trên thị trường bất động sản hiện nay. Đây là khái niệm dùng để chỉ những căn hộ nằm trên tầng cao nhất của một tòa cao ốc, hay còn gọi là căn hộ thông tầng.

Trong kiến trúc, khái niệm penthouse được sử dụng cho cấu trúc nằm phía trên mái của một tòa nhà cao tầng, có tường bao quanh, nhưng không chiếm toàn bộ phần mái. Khi các kiến trúc sư và nhà thiết kế nội thất ở châu Âu nhận ra tiềm năng trong việc tạo những không gian sống ấn tượng, họ đã tận dụng tối đa không gian tầng mái, và triển khai được dạng căn hộ độc đáo có tên là penthouse.

Penthouse bắt đầu thịnh hành từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước, tại nhiều thành phố ở Mỹ. Năm 1923, khi những căn hộ trên tầng mái đầu tiên của tòa nhà Plaza Hotel nổi tiếng nhìn ra Công viên Trung tâm ở New York được đưa vào sử dụng, giới bất động sản toàn thế giới khi đó đã ít nhiều quan tâm đến dạng nhà ở kiểu mới này. Đây chính là thời điểm mở đầu cho một thời kỳ phát triển mạnh các căn hộ dạng penthouse trong những năm sau đó.
Penthouse được thiết kế khác hẳn những căn hộ khác trong cùng tòa nhà, và còn được phân biệt bởi tiêu chí xa hoa, sang trọng. Để phân biệt rõ nhất, penthouse thông thường sẽ gồm từ hai tầng trở lên. Cầu thang dẫn lên các tầng trên hầu hết được bố trí bên trong căn hộ. Những ban công rộng (mái hiên) chạy dọc ngôi nhà là điểm đặc biệt. Đó là những không gian thư giãn hiếm có, nhất là đối với các tòa nhà luôn bị quây bởi kính. Không phải tất cả các căn penthouse đều có những mái hiên như vậy, nhưng chúng luôn là chi tiết thiết kế mà nhiều kiến trúc sư hướng tới.


Một không gian tầng mái có thể được chia thành nhiều căn penthouse, nhưng cũng có nơi, toàn bộ tầng mái chỉ là một căn hộ kiểu thông tầng này. Penthouse có thể được thiết kế đặc biệt, bao gồm rất nhiều chi tiết độc đáo mà không tìm thấy ở bất kỳ căn hộ nào khác trong cùng tòa nhà. Mỗi căn thậm chí còn có lối ra vào riêng, thay vì phải chung đụng với những hộ khác ở bên dưới.

Tầm nhìn từ một căn hộ penthouse ở New York. Ảnh: Proinvest

Những ưu ái khác cũng sẽ được kiến trúc sư đưa vào không gian, chẳng hạn như trần nhà cao, có hệ mái vòm, lò sưởi, tầm nhìn đẹp và thông thoáng, cửa sổ rộng, nhiều phòng, không gian cho văn phòng và nhiều thứ khác nữa... Khu bếp là một trong những nơi thường là niềm tự hào của chủ đầu tư các căn penthouse này, với các thiết bị sang trọng bằng thép không gỉ, mặt đá granite, đảo bếp, quầy bar và nhiều thứ khác nữa.

Sở hữu penthouse là sở hữu cả không gian phía trên cao nên hầu hết những căn hộ này được bán với giá rất đắt, và thường gắn liền với phong cách sống sang trọng. Chính vì vậy, trên thị trường, đôi khi khái niệm penthouse được gắn cho rất nhiều loại nhà khác nhau, và giá cả vì vậy cũng bị thổi phồng lên. Khái niệm penthouse có khi được dùng cho những căn hộ không khác gì các căn còn lại trong tòa nhà, chỉ vì nằm ở tầng trên cao. Chưa hết, thậm chí còn xuất hiện khái niệm "sub-penthouse" để chỉ những căn hộ ở tầng áp chót, gần với penthouse nhất.

Tâm Anh - VnExpress

Ngân hàng giải hạn như thế nào?

Tài chính marketing - Vào thời điểm này năm ngoái, bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều những quan ngại từ các tổ chức tài chính nước ngoài rằng, Việt Nam có thể đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ tương tự như Thái Lan năm 1997. Chi tiết>>

Bài liên quan:
* Không dễ huy động vốn trung dài hạn
* Những kịch bản hệ quả
* Tranh mua cổ phiếu tài chính, bất động sản
* Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng kỷ lục
* Giá vàng giảm nhẹ
* Chứng khoán Mỹ giảm điểm

Tuesday, April 14, 2009

Việt Nam tăng trưởng lớn mà không mạnh

Tài chính marketing - Mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đang bị thách thức nghiêm trọng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Giống như một cơ thể to lớn không khỏe mạnh.

Trong thông cáo phát tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh ngày 26/3 vừa qua, một con số ấn tượng đã được công bố: cấp phép cho các dự án FDI trị giá 2 tỷ USD trong khuôn khổ hội nghị. Thực tế chỉ có 3 dự án trị giá hơn 100 triệu USD được ghi nhận là được cấp phép trong khuôn khổ của hội nghị này. Tuy vậy, ngay hôm đó và cả ngày hôm sau, nhiều tờ báo ở Việt Nam cũng vẫn đăng tải có đến 2 tỷ USD vốn FDI đã được cấp phép chỉ trong một ngày.

Thật khó mà trách những người có trách nhiệm đã đưa ra tin này cũng như các phóng viên đưa tin. Thực ra tất cả mọi người đều muốn làm một điều gì đó tích cực nhằm cổ vũ cho những nỗ lực thu hút FDI vốn đang chậm lại do khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Trên thực tế, tình hình có vẻ khá bi quan. Chỉ một ngày trước đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phát đi thông điệp đáng lo ngại: FDI vào Việt Nam chỉ đạt 700 triệu trong tháng 3. Giáo sư, Tiến sỹ Kenichi Ohno của Diễn đàn Phát triển Việt Nam, người đã bắt đầu nghiên cứu kinh tế Việt Nam từ năm 1995 nhận định rằng, Việt Nam khó mà thu hút được nhiều FDI trong bối cảnh hiện tại.

Ông nói với doanh nghiệp: “Các nhà đầu tư nước ngoài không còn hứng thú mở rộng đầu tư, kinh doanh. Trong ngắn hạn thì chả có ai hứng thú đầu tư vào bất kỳ cái gì. Tôi nghĩ hiện tại Việt Nam khó mà huy động được vốn từ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Mỹ vào bất kỳ ngành nào ở đây. Mọi người đang chờ đợi xem điều gì tồi tệ sẽ xảy ra ở Mỹ, hay Nhật Bản, hay EU. Tôi nghĩ tâm lý của các nhà đầu tư hiện tại là rất tiêu cực. Bất kỳ nỗ lực nào mà Chính phủ cố gắng làm sẽ không giúp được nhiều”.

Giáo sư kể rằng, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, nhất là loại xuất khẩu sản phẩm 100% đang rất khó khăn. Các doanh nghiệp chuyên sản xuất linh kiện điện tử phải cắt giảm đến 50% công suất. Tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu như Canon, Panasonic đang chịu ảnh hưởng bởi kinh tế toàn cầu, nhưng họ không thể chuyển sang thị trường nội địa của Việt Nam. Trong khi đó, các công ty mẹ của họ ở Nhật Bản cũng đang rất khó khăn. “Tôi nghĩ tình hình là rất xấu”, ông nói.

Phát triển sân golf rầm rộ ở nhiều địa phương cũng là một ví dụ về phát triển thiếu
quy hoạch và tính toán kỹ lưỡng ở Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà 

Chủ tịch Tập đoàn đầu tư Sài Gòn Đặng Thành Tâm, người hiện sở hữu rất nhiều khu công nghiệp trên khắp Việt Nam cho biết, hầu hết những nhà máy đang lắp đặt, hay chuẩn bị đưa vào sản xuất đều ngưng lại. “Khách hàng của chúng tôi, những doanh nghiệp đã xây xong nhà máy thì tạm ngừng, chưa lắp đặt máy móc thiết bị. Nhìn chung, tỷ lệ ngưng trệ phải đến 50%. Tập đoàn Foxconn chẳng hạn, họ cam kết đầu tư 5 tỷ USD, nhưng bỏ vào chưa được 20%, và cũng đang tạm dừng đầu tư”, ông phát biểu trên một tờ báo gần đây.

Ông Tâm nhận xét thêm, vốn FDI giải ngân trong quý I năm nay là khoảng 1,4 tỷ USD, trong khi vốn đăng ký vào các nhà máy sản xuất công nghiệp rất chậm, bất động sản rất ít, nếu có, chỉ là đăng ký giữ chỗ. “Tôi cho rằng FDI sẽ giảm đi rất nhiều trong thời gian tới”, ông nói.

Cơ quan cấp phép đầu tư biết ông Tâm, và chắc chắn biết rõ tình hình thực tế của các dự án FDI đang triển khai. Tuy vậy, họ vẫn muốn có được một con số FDI lạc quan. Đơn giản là, luồng vốn này đã trở thành một động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.

Một tính toán sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tiết kiệm nội địa của Việt Nam so với GDP đã sụt giảm từ 30,6% năm 2006 xuống 29,1% năm 2007 và 28,8% năm 2008, tương ứng với mức gia tăng của tiêu dùng cuối cùng. Điều này có nghĩa là, tỷ lệ thâm hụt tiết kiệm nội địa/đầu tư so với GDP của Việt Nam ngày càng gia tăng, từ mức khoảng -11,7% năm 2006 lên -16,5% năm 2007 và -14,3% năm 2008.

Nói một cách đơn giản, Việt Nam đang đầu tư nhiều hơn so với các khoản tiền tiết kiệm được, và như vậy là khác với mô hình của các nước khác ở châu Á như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), đây là những quốc gia có thặng dư giữa tiết kiệm nội địa so với đầu tư ở mức khá cao.

Một điểm nữa, theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn FDI giải ngân đang tăng cao đáng kể, từ 15,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong năm 2006 lên 24,8% năm 2007 và ước đạt 24,7% năm 2008.

Những con số này cho thấy thực tế Việt Nam đang ngày càng dựa nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài để chi trả cho đầu tư trong nước; và vì lẽ đó, mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, dự kiến sẽ suy giảm do khủng khoảng tài chính toàn cầu, ít nhất là trong ngắn hạn.

Điều này phù hợp với những diễn biến trên thực tế. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt mục tiêu giải ngân khoảng 11-12 tỷ USD FDI. Cùng thời gian này, Chính phủ đã đặt chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm 2009 là 6,5%. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói trong Hội nghị các nhà tài trợ thời gian đó: “Tôi nhấn mạnh khoảng 6,5% cũng có ý là trong điều kiện thuận lợi thì chúng tôi có thể đạt 6,5% hoặc vượt. Còn trường hợp khó khăn thì chúng tôi phấn đấu giữ tăng trưởng dưới 6,5% nhưng không thấp quá để ổn định kinh tế vĩ mô”.

Ba tháng sau, tình hình có vẻ khác, khi Chính phủ đã công bố điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng xuống 5% và dự kiến trình Quốc hội tháng 5 tới, trong khi mục tiêu giải ngân FDI cũng được điều chỉnh xuống khoảng 8 tỷ USD.

Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư của Nhà nước vẫn còn rất cao, chiếm khoảng gần nửa tổng vốn đầu tư toàn xã hội (41 - 46%) trong giai đoạn 2006 - 2008. Các nhà kinh tế cho rằng, xét trên các chuẩn mực quốc tế, những chỉ số này cho thấy, ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam không được chú trọng nhiều bằng mục tiêu tăng trưởng.

Bằng chứng là, nhiều chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ trong những năm qua chủ yếu tập trung cho một mục tiêu chung là kích thích mô hình tăng trưởng dựa trên mở rộng đầu tư.

Tuy vậy, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực nhà nước không cao mà các biểu hiện là đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, sử dụng vốn kém hiệu quả, chậm tiến độ thi công, nợ đọng vốn xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp nhà nước lớn đầu tư vào các ngành không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính đã trở thành một nguy cơ ngày càng lớn.

Từ nhiều năm nay, mục tiêu tăng trưởng GDP đã đương nhiên trở thành con số pháp lệnh, và vì thế nhiều nguồn lực đã được đổ ra để hiện thực hóa nó. Tuy vậy, đây là điều không thể làm được với các nhà đầu tư nước ngoài. Những người có trách nhiệm có thể sẽ không phải giải thích về con số 2 tỷ USD cấp trong ngày 26/3, vì có lẽ nó sẽ được bù đắp bằng những dự án cấp trong thời gian tới. Nhưng rõ ràng rằng, đó không phải là cách bù đắp cho tính dễ bị tổn thương mà mô hình tăng trưởng này có thể gây ra.