Monday, July 23, 2012

TS. Thái Thị Kim Lan: “Chữ tình là chữ khởi đầu…”

[Tiếp thị văn hoá] Là giảng viên triết học và Phật giáo tại đại học Ludwig (Đức) suốt 30 năm nay, sự kiên trì, tinh thần lạc quan, tập luyện vận dụng trí tuệ trong mọi hoàn cảnh đã giúp một thiếu nữ Huế mong manh như chị có thể sống, tồn tại, và hoà nhập vào môi trường học thuật của Đức.

* Chị đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất của thời niên thiếu ở Huế, cách sống và cách giáo dưỡng của cha mẹ đã giúp chị điều gì khi bước vào môi trường khoa học xứ người?

- Tôi mất cha năm lên bốn tuổi, chính nhờ sự tận tuỵ, tình thương vô bờ, sự hy sinh lớn lao của mẹ tôi, và phải nói, nhờ vào bàn tay ấm áp của đại gia đình, sự giúp đỡ âm thầm mà thâm sâu của bà nội và bà cô, tôi được đi học bình thường như những thanh thiếu niên cùng thế hệ.

Chính hai vị lão phu nhân này đã góp phần không nhỏ hun đúc ý chí học hỏi cho tôi. Trong trường hợp của tôi, thân giáo đến từ bà nội, bà cô và mẹ đóng vai trò quan trọng. Lối sống lễ giáo trong gia đình tôn ti trật tự có sẵn đã tạo nên “cái khung” tự nhiên cho cung cách ứng xử, đôi khi chật hẹp nhưng cần thiết cho cuộc sống chung.

Vào thời ấy, đôi khi tôi muốn “tháo cũi sổ lồng” – và cơ hội đến khi tôi được học bổng du học. Những tưởng tôi sẽ ngang tàng phá vỡ mọi khuôn phép, nhưng bỗng nhiên ở xứ người tôi lại “thủ cựu”, và chính qua đó, sự tự trọng dè dặt, đã giúp tôi ngẩng cao đầu.

Trong khi mẹ tôi tận tuỵ lo cho tôi ăn học, bà nội tôi là người giáo dục tinh thần. Bà không cầm roi như lối giáo dục nam quyền, bà chỉ kể chuyện – đó là một trong những lý do tại sao tôi dùng phương pháp kể chuyện với con tôi sau này.

Là nữ giáo thụ cho các cung nữ, bà nội tôi có lối kể chuyện uyên bác và thu hút. Bà kể cho tôi chuyện cha tôi, bác tôi, ông nội tôi, các nhân vật lịch sử, văn chương, các tuồng tích, họ đã đi học như thế nào, bác tôi đã tiến thân từ anh học trò nghèo mồ côi cha cho đến khi thi đỗ làm quan, nhiều thật nhiều chuyện những con người trong nghèo khó khắc phục hoàn cảnh bằng ý chí, tâm huyết và tài năng để tiến thân.

Giấc mơ học thành tài của tôi đến từ câu chuyện ấy, ý chí phấn đấu trong hoàn cảnh khó khăn đã giúp tôi mạnh mẽ không lùi bước. Trong lúc ấy, bà cô tôi, một mệnh phụ cao quý lại cho tôi hình ảnh của người phụ nữ tự tin, thành đạt, thương người, hiếu thảo, thuần đạo. Còn mẹ tôi, là đức hy sinh xả thân của bà.

Tôi nghĩ rằng “thân giáo” đóng vai trò quan trọng trong giáo dục. Nếu người lớn không có kỷ cương, vô đạo thì người trẻ sẽ theo gương ấy mà vô kỷ cương, vô hạnh. Chính nhờ thân giáo ấy, mà khi tôi “đi đứng” ở nước người, nhận được sự tôn trọng.

* Thử thách nào là lớn nhất với chị để có thể kiên định với con đường nghiên cứu triết học suốt bao năm qua, trong một thế giới sống gấp và thực dụng? Chị nghĩ gì về sự đứt gãy của thế hệ tiếp nối trong lĩnh vực nghiên cứu và dịch thuật triết học?

- Trước tiên tôi đã chọn triết học vì “yêu” chứ không nghĩ đến mục đích thực dụng. Với điểm học tốt, tôi đã có thể chọn những môn khác như y khoa, vật lý học…

Khi yêu thì một liều ba bảy cũng liều cho nên thử thách nào, vật chất hay chướng ngại tinh thần, cũng đều “giải giáp” trước tình yêu ấy. Yêu triết học cũng có nghĩa là yêu gấp đôi đó (cười): yêu cái tình yêu chân lý, lẽ sống của con người. Nó chính là phương thức cho tôi sức mạnh vượt qua những khó khăn trong đời người.

Tôi nghĩ rằng phương pháp triết học giúp chúng ta đạt được cái nhìn thấu đáo về kỹ năng “người”, điều kiện hiện sinh, trách nhiệm đạo đức, để vượt lao lý và đạt quân bình nội tâm, làm cho cuộc sống giữa ta và người có ý nghĩa.

Triết học giúp thao luyện trí tuệ – tâm trí cũng giống như thao luyện thân xác. Triết học đem lại sự tự tin và lòng tin vào sức mạnh trí tuệ, phẩm giá con người.

Theo tôi, sự bỏ qua triết học trong chương trình giáo dục hiện nay là một sai sót lớn. Tây phương đã có một thời xao lãng, nhưng chương trình trung học vẫn không thể bỏ qua các môn thuộc lĩnh vực triết học.

Hiện nay, vai trò của triết học trong việc giáo hoá, đào tạo được đánh giá quan trọng. Trong mê cung của chủ nghĩa thực dụng vật chất, cần có một kim chỉ nam hướng dẫn con người có tư duy đúng đắn, tự chủ và độc lập.

Trước sau, tôi vẫn nghĩ đưa triết học vào chương trình giáo dục tại Việt Nam, nếu Việt Nam muốn tiên tiến trong công cuộc giáo dục, đào tạo con người toàn diện.

* Ngoài dịch sách, chị còn là tác giả của nhiều tiểu luận về triết học, tôn giáo và nhiều bài ký sự, tuỳ bút… Nhìn lại quá trình nghiên cứu của mình, chị nghiệm ra điều gì quý giá nhất?

- Có thể nói, sáng tạo là điều quý giá nhất, trong nghĩa sáng tạo là khả năng tổng hợp sinh động cái cũ, vốn liếng tri thức nhân loại đã có để sản sinh cái mới, có như thế sáng tạo mới có ý nghĩa nhân bản.

Tôi thích câu trả lời của Trần Nhân Tông: “Mỗi lần nêu ra một lần mới”, cũng trong ý nghĩa ấy, tôi thấy mình cần… mới hơn nữa.* Là người dịch khá nhiều tác phẩm triết học và dịch thơ, quan điểm của chị về dịch triết, dịch thơ? Vì sao chị lại chọn Hölderlin?

- Từ hơn 40 năm nay, tôi vẫn không thay đổi quan điểm dịch của tôi là dịch đúng và chính xác. Tôi cố gắng bỏ cái tôi định kiến trong khi dịch hầu mong chuyển tải tâm tư của nguyên bản. Tôi ý thức rõ trách nhiệm này.

Tôi thích thơ Hölderlin, bởi vì trong thơ ông tính chất tư duy triết học, thao thức của ông và thời đại ông đã biến thành thơ, đã hoá thần. Một so sánh nhỏ tuy không cân đối: tỷ như Trịnh Công Sơn của chúng ta hát triết lý của thập niên 1960 không chút gượng ép, anh trở thành ve sầu của thế hệ chúng tôi.

* Viết khá nhiều cho tạp chí Văn hoá Phật giáo, đó có phải là cách để chị đưa triết học, nhất là triết học Phật giáo đến với thập loại chúng sinh? Viết cho người đọc bình dân, chị có gặp khó khăn nhiều không?

- Tôi mong muốn lý giải đạo Phật trong một tinh thần so sánh mới, chứ không sáo mòn theo cách giảng giáo lý truyền thống. Nếu nói bình dân hoá, thì những khảo luận của tôi chưa đạt và cũng không mong muốn đạt tiêu chuẩn ấy, tôi mong văn hoá đọc của người Việt hôm nay tìm cái khó hơn là cái dễ.

* Làm thế nào để chị có thể bắt kịp hơi thở nóng hổi của cuộc sống hôm nay, nhất là những chuyện thời sự của quê nhà, để lý giải nó với một ngôn ngữ bình dị?

- Hơi nóng của một lò… sát sinh có nóng hơn không? Lắm lúc cảm giác bị thiêu cháy rất cụ thể, nhưng bất chợt trăng trên lá dừa, hoa cau thơm im lặng trong nắng mai, có hiệu lực làm lành, đưa tôi có thể trở về. Heidegger gọi sự xuống dốc của Âu châu trong thời hậu hiện đại là “sự lãng quên thể tính” (Seinsvergessenheit).

Quê nhà đang trên đà bị Tây phương hoá một cách thực dụng, bắt chước rập khuôn ngay cả phế thải văn minh Tây phương. Tôi gọi là sự đánh mất bản thể, lãng quên nguồn gốc hai lần, nhất là trên phương diện đạo đức. Vì thế càng phải gấp hơn sự chấn chỉnh giáo dục toàn diện.

Chị nghĩ sao khi sự trong sáng của tiếng Việt đang bị cuộc sống thực dụng và văn chương thực dụng làm hoen ố, trong đó có sự tiếp tay không nhỏ của những nhà… dịch ẩu?

- Theo tôi, sự trong sáng của tiếng Việt đang bị đe doạ không phải do chuyện dịch sách ẩu, đó chỉ là chuyện nhỏ. Thảm hoạ lớn hơn và hiện diện khắp nơi ngay trên đầu lưỡi của mỗi người, là dùng ngôn ngữ để nguỵ trang, nói dối công khai. Cả người nói và người nghe đều biết là dối, nhưng vẫn lặp lại, cho đến khi sự dối thành thật và cái trung tín của ngôn ngữ biến mất.

Khủng hoảng lớn nhất là chúng ta đánh mất niềm tin vào sự trung tín, như là cơ sở của tương quan giữa người và người trong giao tiếp, người này bỗng thành kẻ cắp của người kia và ngược lại.

Hình như trong mỗi giao tiếp chẳng ai tin ai được, làm sao cha mẹ dạy bảo được con, trò vâng lời thầy? Mọi việc trở thành những thứ bán chác. Di hại này quá lớn cho thế hệ trẻ. 

* Đọc những bài chị viết về Tết, về Huế, về ngày Phật đản xa xưa… thấy xúc động lạ thường. Dường như nỗi nhớ đã giúp chị chiêm nghiệm ra nhiều điều quý giá?

- Đúng là cái vốn xã hội trong quá khứ đã gắn kết tôi với quê hương, những điều thật đẹp mà tôi đã trải qua và tôi muốn chia sẻ những điều đẹp ấy cho những người quanh tôi hôm nay.

Cuộc sống ấy đơn giản, khiêm nhường nhưng đã có những giá trị thật cao, hơn gấp trăm ngàn lần đời sống xa hoa, phù phiếm đầy giả tạo. Những giá trị ấy nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Tôi đã mang theo những giá trị ấy trên đường đi đến xứ người, và một phần của nó đã giúp tôi sánh vai được với bạn bè năm châu.

Trong nhiều cuộc nói chuyện với con về những khủng hoảng, những thất bại mà chính tôi gặp phải, tôi thường bảo con, không thể quay lưng với con người. Giá trị đời sống nằm ngay ở chỗ vẫn tin vào tính thiện của con người, vì “giết người đi thì ta ở với ai?”.

* Những bài viết của chị luôn kèm theo những bức ảnh rất thơ mà chính chị là tác giả, thú vui nào đã giúp chị giữ được sự xanh tươi trong cách nghĩ, cách sống?

- Thẩm mỹ, yêu cái đẹp, nghệ thuật là điều không thể thiếu trong cuộc sống. Nietzsche cho rằng chỉ có hiện sinh thẩm mỹ là thứ tồn tại được truy nhận. Ông còn đi xa hơn khi cho rằng giáo dục con người trước hết nên là giáo dục thẩm mỹ, chính cái đẹp làm nên cuộc sống có ý nghĩa, chứ không phải khoa học.

Tôi ủng hộ phần nào quan điểm của ông, nếu không có nghệ thuật, hiện sinh trở nên khập khiễng, nghệ thuật có thể làm hoà mâu thuẫn giữa chủ thể và đối tượng, sáng tạo hoà điệu đã bị phá vỡ giữa con người và thế giới chung quanh.

Cho nên thơ như ngôn ngữ hoà nhập và cái nhìn qua nhiếp ảnh đều tạo tác chung, cái này không bù trừ cho cái kia mà làm nổi bật lẫn nhau.

Thiền sư đạt đạo là một nghệ sĩ đầy cảm xúc về cuộc sống, cho nên đến với đạo Phật bằng tâm hồn nghệ sĩ cũng nằm trong ý hướng mà Nietzsche đã nhận định.

Nấu một món ăn thật ngon cho bạn bè, ôm được con sau nhiều ngày xa cách, mặc một chiếc áo đẹp với gout tinh tế, ăn được một trái giáng châu từ vườn Huế, ngắm được một đoá hoa hải đường mới nở trong vườn hay thảo luận với người thức giả, đều là những thú vui, và đôi khi chọn cô đơn, “tôi chọn ngồi thật yên” như lời nhạc Trịnh Công Sơn.

* Chị có sợ không khi mỗi ngày đọc báo, lại thấy cuộc sống đầy những tiêu cực, khủng hoảng, nhất là khủng hoảng tinh thần đang lan tràn như một bệnh dịch?

- Giá trị đạo đức đang bị huỷ hoại đến phải rên xiết. Dạo sau này khi trở về Việt Nam tôi ngủ không yên, tâm trạng bất an đến từ những khủng hoảng chung quanh hàng ngày đọc, nghe, thấy, va chạm.

Tình trạng phân hoá xã hội gắt gao một cách phi lý, o bán cháo ngồi trước nhà chỉ mong mỗi ngày lời được mấy chục ngàn đồng để nuôi cả gia đình, o bán bánh ngày nào cũng rao trước cửa hy vọng chủ nhà mua vài ngàn bánh, lại nghe thấy đọc thấy các đại gia giàu hàng ngàn tỉ, đi xe khủng, đám cưới khủng.

Bất an trên đường phố, bất an khi thấy mỗi người đều vay nợ để sống... và đồng tiền làm bá chủ trong cuộc sống vay mượn này. Khi đồng tiền ngự trị thì giá trị tinh thần của con người, tính cao quý của con người chỉ là những con số. Thức giấc nửa khuya, tôi có nỗi sợ hãi của một người đang nghe cơn địa chấn lung lay đất sống.

* Cách để chị tìm thấy sự tĩnh lặng và suy tư giữa bộn bề bất trắc?

- Nếu không tập luyện được duy trì hơi thở ngay trong hỗn loạn thì có lẽ tôi sẽ bị suy sụp tinh thần. Trong lúc quán hơi thở, tôi tự nhủ mình không bỏ cuộc, và muốn cùng với những người đồng cảm bắt đầu một cuộc hành trình văn hoá khác, khiêm tốn nhưng đầy tình người.

Làm thế nào để sống một cách bình thường như câu chúc mà chị thường dành cho bạn bè mỗi lúc chia tay?

- Trước sau thì vẫn: “Chữ tình là chữ khởi đầu…”. 

Sunday, July 22, 2012

CPI âm, giảm phát không còn là tín hiệu

[Tài chính marketing] Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Hà Nội và TP, Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành phố lớn khác tiếp tục âm. Áp lực giảm phát đang trở nên lớn hơn bao giờ hết, đó không còn tín hiệu hay lo ngại đang là một thực tế mà DN và nền kinh tế phải đổi mặt.

Số liệu thông kê cho thấy, CPI tháng 7 ở Hà Nội tiếp tục giảm 0,29% so với tháng trước. So với cùng kỳ, chỉ số này chỉ còn tăng 4,64% - một con số rất thấp. Tính theo tháng, từ đầu năm tới nay CPI Hà Nội đã giảm 3 lần và tháng 7 có mức giảm mạnh nhất.

Trong khi đó, ở TP. Hồ Chí Minh, CPI tháng 7 tiếp tục giảm 0,57% so với tháng trước (tháng trước giảm 0,43%). So với tháng 7/2011 chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,3%; So với tháng 12/2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,47%. Khả năng giá các tháng còn lại của năm sẽ tăng do Nhà nước điều chỉnh tăng giá điện, giá dịch vụ y tế...

Trong khi đó, dù chỉ số CPI tháng 7 của cả nước chưa được Tổng cục Thống kê tổng hợp nhưng nhiều khả năng sẽ giảm tháng thứ 2 liên tiếp (tháng trước giảm 0,26%) khi ngoài hai thành phố lớn còn nhiều tỉnh thành khác cũng giảm như: Đồng Nai (-0,25%), Đà Nẵng (-0,21%), Long An (-0,06%).

Với thực tế này, trong khi nhiều yếu tố vĩ mô khác đang ở chiều hướng tích cực nhưng CPI vẫn đi xuống. Điều lo ngại nhất đang đến rất cần là nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát thì quả là một điều rất đáng lo ngại.

Trước đó, khi CPI cả nước giảm 0,26% trong tháng 6 thì nhiều người vẫn cho rằng đó là một kết quả được dự báo nhưng mới chỉ là biểu hiện ban đầu của giảm phát.. Và chỉ có thể khẳng định nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát khi chỉ số CPI giảm liên tục trong nhiều tháng, thông thường là 3 tháng.

Thậm chí, theo các chuyên gia, trước diến biến đó cần phải bình tính ứng phó vì CPI giảm sẽ tạo một dư địa chính sách để Chính phủ có điều kiện để giảm lãi suất huy động và cho vay, đồng thời, có điều kiện áp dụng các chính sách và các giải pháp cơ bản khác như: đẩy mạnh xây dựng cơ bản, giải ngân ODA và có điều kiện để làm giảm bớt sự đình trệ của thị trường bất động sản và các thị trường khác.

Khá nhiều chuyên gia khác cũng khẳng định CPI giảm trong tháng 6 mới là biểu hiện bước đầu chưa đáng lo ngại. Nhiều quan chức cũng cho biết, sẽ không có tình trạng giảm phát diễn ra và mọi cố gắng điều hành kinh tế sẽ hướng đến mục tiêu lạm phát 7 - 8% để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng như mong đợi. Trong phiên họp gần đây, Chính phủ cũng cho thấy, chưa muốn điều chỉnh mục tiêu tăng trường

Theo lý thuyết, tình hình đến cuối tháng 6 thì đúng như nhân định. Nhưng với thực tế đảo chiều của chỉ số CPI trong tháng 6 và dự đoán sẽ tiếp tục trong tháng 7, nhất là thực tế hàng hóa tồn kho của các doanh nghiệp lớn, tín dụng tăng chậm chạp, xuất siêu hàng hóa... là những tín hiệu đáng lo ngại.

Trước đó, một số chuyên gia đã dự đoán CPI sẽ còn tiếp tục giảm trong 3 tháng nữa và có thể đạt mức đáy vào tháng 9 tới. Lạm phát cả năm chỉ khoảng trên dưới 5%. Dự đoán này được đưa ra trong bối cảnh đầu tư (cả công và tư) và tiêu dùng đã và đang bị co lại do chính sách thặt chặt trước đó, do ngân sách eo hẹp, do thu nhập của người lao động giảm, thất nghiệp gia tăng...

Nếu đúng như các dự báo nói trên thì khi đó giảm phát sẽ trở thành sự thật chứ không còn là hiện tượng nữa. Nếu CPI tiếp tục giảm trong tháng 7 sẽ khiến cho nguy cơ giảm phát rõ ràng hơn bao giờ hết và nếu đúng vậy thì nền kinh tế còn đang chìm ngập trong khó khăn và nhiều doanh nghiệp sẽ còn phải đối mặt với nguy cơ phá sản.

Tuy nhiên, CPI giảm sẽ tạo dư địa chính sách để Chính phủ đẩy mạnh bơm tiền ra nền kinh tế, theo đó để làm giảm bớt sự đình trệ của thị trường bất động sản và các thị trường khác. Theo đó, những người vững tin thì cho rằng, CPI giảm là dấu hiệu tốt. Theo đó, hàng hóa và dịch vụ đang về với giá trị của nói bởi giảm trong 2 tháng qua là so với lúc tăng và giá hàng hóa cần phải giảm nữa.

Hơn nữa, việc CPI tháng 7 tiếp tục giảm thì Chính phủ sẽ có cơ hội để đẩy tín dụng 6 tháng cuối năm tăng trưởng 10-12%. Tiền sẽ được bơm ra với lãi suất thấp (có thể về tới 9-10%) sẽ giúp các doanh nghiệp đồng loạt hồi sinh. Với lãi suất bị áp về hết dưới 15%, quý III, các doanh nghiệp chắc chắn sẽ tốt hơn. Nếu tín dụng được bung ra như dự kiến thì tình hình còn khởi sắc hơn nhiều", nhà đầu tư chứng khoán tên Tiến cho biết.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, một số nhà đầu tư lo ngại việc bơm tiền ào ạt ra lúc này sẽ khiến lạm phát có thể quay trở lại. Hơn thế, những nỗ lực cơ cấu lại kinh tế suốt 2 năm qua có thể sẽ trở thành hư vô. Theo họ, việc điều hành cách chính sách kinh tế cần mượt mà hơn, tránh lúc thắt chặt quá rồi lại bung ra nhanh quá. Và để làm được điều này thì các dự báo chính xác của các cơ quan chức năng cần thiết hơn bao giờ hết.

Rõ ràng, Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ đề ra đã giúp kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định lòng tin vào đồng tiền quốc gia. Song hiệu ứng phụ không mong muốn của nó lại khá lớn. Thặt chặt tiền tế đã khiến cho suy giảm tăng trưởng sản xuất kinh doanh. Thực tế tăng trưởng ở mức 5-6% cũng không phải là thấp, nhưng xét ở 1 khía cạnh nào đó, sự suy giảm nhanh đã khiến cho hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn vô cùng, với hàng tồn kho tăng cao, nợ nần chồng chất (chủ yếu do phát triển nóng và lãi suất cao). Hơn thế, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng cũng sẽ góp phần khiến cho các chính sách cứu trợ trở nên gấp gáp và cần thiết hơn bao giờ hết.

Với diễn biến mới nhất từ CPI tháng 7, rõ ràng, giảm phát không còn là tín hiệu mà đang là một sức ép lớn, một thực tế mà kinh tế và DN đang đối mặt. Điều đó buộc phải linh hoạt và quyết liệt hơn trong các giải pháp hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế.
Theo VeF (Mạnh Hà)

Các bài khác:

Cấp quản lý: Nữ giới - nhiều hơn một nửa

[Học marketing] Câu trả lời cho nỗi lo thiếu hụt quản lý cao cấp tại các doanh nghiệp châu Á là: phụ nữ.

Theo báo cáo của Tổ chức Tư vấn McKinsey, tại phương Tây, phụ nữ chiếm khoảng 10-20% trong bộ máy quản lý doanh nghiệp. Trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ, tổng giám đốc nữ chiếm khoảng 30%.

Con số này càng cho thấy rõ khoảng cách tụt hậu của phụ nữ châu Á. Mặc dù cũng có ngoại lệ như Singapore nhưng xét toàn châu Á thì tình hình nữ quyền trong doanh nghiệp khá tồi tệ.

Tại những quốc gia có nền kinh tế hiện đại Nhật Bản và Hàn Quốc, phụ nữ có thể ngồi cùng với nam giới chỉ là khi họ... phục vụ trà nước. Một trong những lý do giải thích vai trò thấp yếu của phụ nữ trong doanh nghiệp châu Á là vì nữ giới chiếm tỷ lệ rất thấp trong lực lượng lao động của doanh nghiệp so với doanh nghiệp phương Tây, nơi có tỷ lệ nữ giới tham gia lên tới 60-70%. 


Tại Ấn Độ chỉ có một trong số ba người phụ nữ có một công việc chính thức, mặc dù có hàng chục triệu phụ nữ quần quật trong các trang trại và trong các doanh nghiệp gia đình. Giáo dục cũng có thể tạo ra sự bất bình đẳng. Trong năm 2009-2010, chỉ có 10-15% sinh viên nữ nhập học tại Viện Quản lý Ấn Độ.

Nhưng thực tế, ngay cả ở các nước có tỷ lệ nữ cử nhân cao thì bậc thang của phái yếu trong các công ty vẫn vô cùng thấp. Thậm chí, một thống kê không vui với chị em là trong số phụ nữ có học vấn cao đẳng hay đại học, chỉ có dưới 30% được thuê và họ thường chỉ được làm các công việc phụ. 

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: đó là tâm lý trọng nam khinh nữ còn nặng nề; ngoài ra là gánh nặng trong công việc và trách nhiệm gia đình khiến nữ giới không thể tập trung cho công việc. Ở châu Á, một trở ngại trong việc xóa bỏ khoảng cách giới là thiếu các dịch vụ công cộng để hỗ trợ các gia đình, chẳng hạn như chăm sóc trẻ em.

Vì vậy, một câu hỏi đặt ra là cho đến khi nào châu Á bắt kịp với phương Tây? McKinsey sau khi nghiên cứu 744 công ty lớn và phỏng vấn 1.500 giám đốc điều hành trong 10 quốc gia châu Á rút ra kết luận: không giống công ty phương Tây, các nhà quản lý cấp cao châu Á không quan tâm đến chủ đề giới tính trong quản trị. Khoảng 70% trong số họ đã không nhìn thấy “sự đa dạng giới tính” như là một chiến lược ưu tiên trong phát triển doanh nghiệp.

Theo McKinsey, khoảng cách giới trong doanh nghiệp là một sai lầm có tính dài hạn. Hiện nay, thực tế đã chứng minh nhiều công ty rất thành công khi có tỷ lệ quản lý là nữ cao.


Chẳng hạn như công ty mỹ phẩm Nhật Bản Shiseido, thậm chí là cả một công ty kỹ thuật lớn như Cisco cũng tuyển mộ nhiều nữ quản trị. Một nghiên cứu năm 2011 của Công ty Heidrick & Struggles cho thấy, một phần ba giám đốc điều hành của các công ty lớn châu Á lo ngại về thiếu hụt quản lý cấp cao trong vài năm tới.

Khi các quốc gia châu Á nổi lên với các nền kinh tế thị trường mới, và với các giá trị văn hoá xã hội thường xuyên thay đổi, thì vai trò của phụ nữ phải được xem xét đầy đủ và phải được xác định rõ. Khác với nhiều nước phương Tây đã trải qua công nghiệp hóa trên 100 năm, nhưng thay đổi ở châu Á đang diễn ra với nhịp độ rất nhanh.

Phụ nữ phải được trang bị tri thức và chuyên môn để đáp ứng được những thay đổi này. Hiện nay các nước đang chú trọng việc đào tạo phụ nữ trong lĩnh vực quản lý. “Tất nhiên thay đổi này khó có thể diễn ra nhanh chóng nhưng câu trả lời sẽ có trong 5-10 năm tới”, báo cáo của McKinsey nhấn mạnh.

Theo DNSG (Hà Cúc)

Một nền kinh tế nợ xấu?

[Tài chính marketing] Xét về mặt vĩ mô, Việt Nam đã tạm thời vượt qua giai đoạn nguy cấp nhất, khi hệ thống ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ hàng loạt. Nhưng chờ đợi phía trước con đường là những biển hiệu ảm đạm chưa có chút hứa hẹn nào cho tăng trưởng, nếu những cánh cửa mới không được mở ra.

Lãi suất liên ngân hàng là một chỉ dấu quan trọng của hệ thống. Tại thời điểm cuối quý 3, đầu quý 4 năm ngoái, lãi suất liên ngân hàng lên rất cao, có thời điểm tới hơn 40%. Đó là dấu hiệu của tình trạng mất thanh khoản nghiêm trọng tới mức có thể phá sản bất kỳ lúc nào của nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.

Từ đầu năm trở lại đây, lãi suất liên ngân hàng đã giảm nhiều, hiện nay nằm ở mức một con số. Điều đó cho thấy mặc dù còn một số ngân hàng nhỏ vẫn trong vùng nguy hiểm, nhưng câu chuyện đổ vỡ hàng loạt có vẻ như đã được tạm thời loại bỏ.

Từ chỗ chênh vênh bên miệng núi lửa của khủng hoảng tài chính hồi nửa cuối năm ngoái, kinh tế Việt Nam đang đi dần vào một mùa đông của suy thoái.

Mùa đông của suy thoái

Lạm phát đã hạ nhiệt, tốc độ tăng giá tiêu dùng trong sáu tháng qua chỉ có 2,52% so với mức tăng 13,33% của sáu tháng đầu năm 2011 và 3,37% của sáu tháng đầu năm 2010. Điều này không lạ vì giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát có quan hệ nhân quả rất chặt chẽ với độ trễ khoảng 6-8 tháng. Việc lạm phát thấp tại thời điểm này là kết quả của việc thắt chặt tiền tệ - tín dụng từ khoảng tháng 4 tới tháng 12 năm ngoái.

Lãi suất ngân hàng nhờ các quyết định hành chính liên tục kế tiếp nhau của Ngân hàng Nhà nước đã giảm về mức thấp đáng kể so với năm ngoái. Lãi suất huy động không kỳ hạn về còn 9% trong khi lãi suất huy động có kỳ hạn nằm ở mức 12-13% và lãi suất cho vay chính thức giảm còn khoảng 15-17%.

Do lãi suất tiền đồng trong suốt năm 2011 và sáu tháng đầu năm 2012 rất cao so với tốc độ trượt giá đồng tiền và việc Nhà nước siết chặt quản lý kinh doanh ngoại hối ngoài luồng, sức ép về tỉ giá lên VND trong giai đoạn vừa qua không lớn. Tiền đồng cơ bản giữ được giá trị sau đợt phá giá mạnh hồi tháng 2-2011.

Sự ổn định này phần nhiều mang tính tình huống và giả tạo. Lạm phát sẽ lại bùng phát một khi tín dụng tăng trở lại giống như kịch bản hồi năm 2010: năm 2008 gặp lạm phát cao tương tự năm 2011. Năm 2009 lạm phát giảm do hiệu ứng độ trễ của chính sách thắt chặt vào cuối năm 2008, giống như những gì đang diễn ra hiện nay. Năm 2010 lạm phát vụt lên trở lại ở mức hai con số sau khi chính sách tiền tệ - tín dụng được nới lỏng một phần.

Điều khá dễ thấy là lãi suất giảm trong thời gian qua phần nhiều do các biện pháp hành chính. Trên thực tế lạm phát đã giảm rất mạnh, Ngân hàng Nhà nước đã bơm khá nhiều tiền vào hệ thống ngân hàng thương mại và dư địa tín dụng được mở toang từ đầu năm nhưng hệ thống ngân hàng thương mại (mất thanh khoản mạnh và nợ xấu trên 10%) vẫn phải cạnh tranh quyết liệt để giành giật nguồn tiền gửi. Vì thế lãi suất huy động vẫn cao hơn rất nhiều so với lạm phát.

Câu chuyện tranh cãi về lãi suất thực dương hay âm, sau hơn một năm, vẫn đối mặt với câu trả lời từ thực tế là lãi suất thực vẫn còn dương và dương rất nhiều. CPI tháng 5 và tháng 6 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt là 8,34% và 6,9% trong khi lãi suất huy động trung bình vẫn còn ở mức hai con số. Điều này dẫn tới chuyện lãi suất cho vay có giảm nhưng còn xa mới nằm trong sức chịu đựng hợp lý của hệ thống doanh nghiệp.

Tương tự, áp lực về tỉ giá hiện nay ở mức thấp là do chênh lệch về lãi suất gửi VND và USD quá cao. Ngay cả khi điều chỉnh yếu tố trượt giá, thì lãi suất thực - tức là lãi suất tiền đồng trừ đi lạm phát của tiền đồng - vẫn cao hơn nhiều so với USD. Tuy nhiên vì tỉ giá được giữ cố định nên người dân chỉ quan tâm đến lãi suất danh nghĩa: tiền đồng không mất giá với USD, lãi suất tiền đồng cao hơn từ 3 lần (hiện nay) tới 5 lần (như hồi năm 2011) so với lãi suất USD, vì thế không có lý do gì phải giữ USD.

Mức chênh lệch quá lớn này đủ để bảo vệ người giữ tiền đồng ngay cả khi tiền đồng bị phá giá từ 5% (năm nay) tới 15% (năm ngoái). Đó là lý do lớn để VND ổn định trong thời gian qua. Tuy nhiên, lòng tin này của người giữ tiền đồng sẽ bị phá vỡ ngay khi lãi suất tiền đồng giảm tới mức mà chênh lệch lãi suất VND và USD không còn đủ lớn để cho họ cảm giác an toàn nữa.

Tăng trưởng kinh tế, theo con số chính thức của Tổng cục Thống kê, cũng giảm về mức thấp nhất trong khoảng mười năm trở lại đây. GDP của sáu tháng đầu năm nay tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức thấp nhất trước đó là 4,46% vào quý 2-2009. Và điều này hợp lý bởi vì cuộc khủng hoảng năm 2008-2009 diễn ra khi sức chịu đựng của hệ thống doanh nghiệp còn tương đối tốt do có một thời gian dài tăng trưởng đều đặn và nhiều doanh nghiệp huy động được tài chính do phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư để tạo thành cái đệm tiền mặt (cash cushion) cho doanh nghiệp khi tín dụng bị thắt chặt.

Trong giai đoạn hiện nay, phần lớn doanh nghiệp không còn được lợi thế này nữa và vì thế sức chịu đựng của họ kém hơn rất nhiều so với hồi ba năm trước.

Chưa phải đáy?

Sự ổn định tạm thời trên bề mặt do lạm phát hạ nhiệt không phải là chỉ dấu của sự an toàn. Khối thuốc nổ lớn đang nằm trong hệ thống ngân hàng hiện nay là các khoản nợ xấu, và không ai biết quy mô (đi kèm với sức tàn phá) của nó đến đâu.

Ngay cả số liệu chính thức từ Ngân hàng Nhà nước cũng không rõ ràng: chiều 7-6-2012, giải trình trước Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đưa ra con số nợ xấu tới 10%. Tuy nhiên tại hội nghị sơ kết sáu tháng của ngành ngân hàng ngày 7-7-2012 tại Hà Nội lại thông báo rằng tính đến cuối tháng 5, tổng nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 4,47% (tương đương 100.000 tỉ đồng) tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.

Mức chênh lệch giữa 4,47% và 10% là vô cùng lớn, tương đương 241.000 tỉ đồng, hoặc khoảng 11,5 tỉ USD. Công bố mới nhất của thanh tra ngân hàng lại đưa ra con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng đến cuối tháng 3-2012 là hơn 202.000 tỉ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng.

Mặc dù có nhiều giải pháp được bàn đến để giải quyết khối tài sản “xấu” này, nhưng chưa có bất kỳ động tác kiên quyết nào được thực hiện. Lý do cũng dễ hiểu: Việt Nam đang ở trong tình trạng có rất nhiều ràng buộc và vì thế không dễ gì giải được bài toán nợ xấu một cách nhanh chóng.

Đấu tranh để tồn tại

Dưới góc độ vi mô, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước một bài toán khó, có lẽ là khó nhất kể từ trong lịch sử khiêm tốn về kinh tế thị trường của Việt Nam hiện đại. Trong khi thị trường đầu ra bị thu hẹp nghiêm trọng, lãi suất các khoản vay vẫn còn rất cao và khả năng vay mượn thêm khá bi đát, câu chuyện xoay đủ vốn để cầm cự tiếp trở thành câu chuyện “tồn tại hay không tồn tại”.

Có một khe cửa hẹp để giúp các doanh nghiệp này, đó là dòng vốn tìm đến mục tiêu mua bán và sáp nhập (M&As). Về triển vọng dài hạn, Việt Nam vẫn là một nền kinh tế đang phát triển còn nhiều tiềm năng để tiếp tục bứt phá. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư quốc tế đang hướng sự chú ý tới các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư đến từ những quốc gia mà khả năng phát triển hầu như đã bị bão hòa. Nhật Bản là một trong các quốc gia có sự quan tâm mạnh mẽ nhất đến việc tìm mua hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, đây chỉ là một cánh cửa hẹp. Nó không phải là một thứ thuốc an thần mà ai cũng có thể mua được ngoài chợ. Dòng vốn này chỉ tìm đến với một số doanh nghiệp tốt nhất, có nhiều tiềm năng nhất, được quản trị bài bản nhất trong các ngành có sức hấp dẫn nhất ở Việt Nam trong trung hạn. Nó cũng chỉ đến được với các doanh nghiệp biết cách săn lùng và tiếp cận với nó. Nhưng dẫu là một cánh cửa hẹp, có vẫn còn hơn không.

----------------------
Với mối lo khá mơ hồ và cảm tính về việc “đổ vỡ dây chuyền”, Việt Nam không muốn bất kỳ ngân hàng nào phá sản, không muốn bất kỳ người gửi tiền nào bị mất tiền, không quốc hữu hóa, và cũng không đủ nguồn lực để cứu trợ tài chính (bail-out) toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như các doanh nghiệp “quá lớn để đổ vỡ” (too-big-to-fail). Việt Nam rất dễ và nhiều khả năng sẽ rơi vào tình trạng hệ thống ngân hàng dày đặc các zombie banks giống như ở Nhật hồi thập niên 1990 trước đây (mặc dù lý do Nhật Bản có các zombie banks khác với Việt Nam).

Đặc điểm của zombie banks là chúng tồn tại nhưng không còn khả năng cung cấp các chức năng bình thường của ngân hàng, tức là huy động rồi cho vay. Việc này dường như đã bắt đầu từ đầu năm nay khi mà dư địa tín dụng được mở toang nhưng tính đến ngày 30-6-2012, tín dụng tăng trưởng chỉ ở mức 0,76% so với cuối năm 2011.

Hậu quả mà Nhật Bản phải đối phó hồi thập niên 1990 thường được nhắc đến là một thập niên bị đánh mất - tức là một thập niên hầu như không có tăng trưởng. Và một tương lai tương tự không phải là không thể xảy ra đối với Việt Nam.
----------------------

Các bài khác:

Friday, July 20, 2012

Bài học kỹ năng: Cần nhìn thấy những giá trị và mặt mạnh của mình

[Kỹ năng marketing] Mike George là một diễn giả quốc tế từng diễn thuyết trên ba mươi quốc gia và cũng khá quen thuộc ở Việt Nam. Không phải ai cũng có cơ hội nghe Mike George nói chuyện, dù ông đã tới Việt Nam ba lần. Nhưng hầu như tất cả sách ông viết, những cuốn sách kỹ năng mềm, đều đã được dịch ra tiếng Việt (Nghệ thuật khám phá tố chất tâm hồn, Từ giận dữ đến bình an, 7 ảo tưởng tình yêu, Từ hối hả đến ung dung, Dưới ánh sáng của thiền…).

Thực hiện trong một chuyến đi ngắn của ông đến Việt Nam, cuộc phỏng vấn này muốn giới thiệu chân dung ông, chứ không trò chuyện sâu về sự phát triển thế giới tinh thần - lĩnh vực ông có nhiều cống hiến. Công việc thật không dễ dàng, phải "góp nhặt" từng chút một để có được bức chân dung khái quát về một tài năng có nhiều đóng góp cho thế giới hiện đại trong lĩnh vực các giá trị sống.

Làm thế nào để có thể trở thành người giỏi giang như Mike George? Khi tôi hỏi vậy, ông từng cười và trả lời rằng "chính tôi cũng đang cố để trở thành tôi". Vậy "tôi" đó như thế nào?

Điều này thật hài hước, vì bạn không thể thành người khác được. Nếu bạn muốn là ai đó, bạn chỉ có thể trở thành hình tượng của họ thôi. Bạn là tốt nhất. Tôi muốn trở thành con người thật của tôi, vì vậy tôi cố gắng để trở thành Mike George.

Khởi đầu, ông là một doanh nhân thành đạt, vậy vì sao ông bỏ nghề? Vì đã giàu quá, đã chán, hay do căng thẳng?

Ngày đó xảy ra đã lâu lắm rồi. Thực ra tôi là đạo diễn quảng cáo, người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông, chứ không hẳn là doanh nhân. Nhưng hồi đó tôi bỏ vì quá căng thẳng.

(Về chi tiết này, cô Trish Summerfield, giám đốc Trung tâm giá trị sống Inner Space ở Việt Nam cho biết thêm: Cách nay khoảng ba mươi năm, Mike George bị chứng hồi hộp trong giao tiếp, căng thẳng tới mức mỗi lần chuẩn bị gặp ai, ông phải vào nhà vệ sinh liên tục. Ông suy sụp, không gượng dậy được và tìm đến học tập ở các trung tâm làm giàu thế giới nội tâm, tìm hiểu bản thân, tự thay đổi mình. Đó là một quá trình khó khăn, lắm thăng trầm, nhưng ông không nản chí. "Phải trở thành mình", ông theo phương châm "chân lý không thuộc về riêng ai, mà phải dành cho tất cả mọi người, để vực dậy con người". Vì thế, ông đã chia sẻ những điều giúp cải thiện bản thân mà ông từng học được).

Ông là một chuyên gia về kỹ năng mềm, thường đi nhiều nơi giảng bài và giúp đỡ các công ty, doanh nghiệp về kỹ năng lãnh đạo và quản lý phát triển tinh thần. Vì sao các doanh nghiệp cần ông giúp những điều này?

Tôi chỉ cho họ hiểu rõ bản thân mình để làm việc tốt hơn.

Họ bị mắc kẹt cái gì mà phải cần đến sự giúp đỡ?

Họ không quản lý nổi bản thân mình. Bệnh chung của con người thời đại là gắn mình với các "nhãn mác" chức tước, nhiệm vụ mà họ mang trong cuộc sống. Chúng bao phủ đến mức ngăn họ lột xác để phát triển bản thân. Phải hiểu rõ con người bị vướng cách nào và gỡ ra bằng cách nào.

Vậy con người đã bị vướng cách nào và làm thế nào để gỡ ra?

Hãy hình dung một cơn bão tố và bạn ở trong cơn bão đó. Có những vòng tròn bên ngoài bao bọc bạn, đó là những chuyện dữ dội, bận rộn căng thẳng, vật lộn khủng khiếp của cuộc đời; tiền bạc, địa vị, gia đình, các mối quan hệ... đủ thứ cuồng phong. Ai cũng biết, nơi yên bình nhất chính là mắt bão, là tâm điểm. Doanh nhân phải làm sao đừng để bị cuốn đi theo vòng xoáy dữ dội đó, đứng được vào tâm điểm ấy. Đó là vào tâm điểm của bản thân anh ta, tâm điểm của bản thể mình, nơi tĩnh tại nhất. Từ chỗ đứng vững vàng ấy, anh ta mới có thể nhìn ra thế giới bằng con mắt của mình và tự hỏi rằng sẽ phải đáp lại những biến cố của doanh nghiệp mình cách nào. Cần nhìn thấy những giá trị và mặt mạnh của mình. Người có thể tìm ra giải pháp phải đứng cân bằng, ngoài sự ảnh hưởng của cuồng phong. Con người ngày nay có nhiều kiến thức nhưng sự thông thái lại kém đi. Theo nhà bác học Einstein, trí thông minh trực giác mới là vua, còn thông minh lý trí chỉ là đầy tớ. Ngày nay con người hoán đổi, để cho thông minh lý trí là vua.

Việc đảo lộn như vậy sẽ gây ra tác hại gì?

Lý trí chỉ nhìn thấy trước mắt và lợi ích hợp lý. Thông minh trực giác hiểu cái gì đằng sau sự việc, nghĩa là còn sâu hơn cả những thứ gọi là kỹ năng mềm. Thông minh trực giác xuất phát từ lương tâm. Chỉ có lương tâm mới mách ta đâu là thật đâu là giả.

Cụ thể, ông đã giúp các doanh nhân như thế nào?

Muốn là nhà lãnh đạo giỏi, trước tiên phải biết lãnh đạo bản thân, hiểu rõ cảm xúc của mình. Tại sao tôi làm, tại sao tôi sợ... Phải hiểu và có trách nhiệm với mình, đi vào bản thể của mình, không bị vướng vào những vai mình đang đóng. Tâm điểm rất trong sáng, không phụ thuộc vào bên ngoài. Giúp họ nhận thức đúng được tâm thế vững chãi nhất có sẵn trong họ. Khi tôi đi dự tiệc hay vào các câu lạc bộ doanh nhân, gặp họ, được họ giới thiệu mình là nhà quản lý, các chức danh..., tôi biết được rằng người ta hay đồng nhất mình với phần việc và chức vụ mình nắm giữ. Giống như khi nhìn vào gương, ta tưởng đã nhìn thấy toàn bộ con người mình vậy. Tôi giúp họ nhận ra con người thật của họ ở phía sau. Vai trò quản lý dĩ nhiên là tuyệt vời, nhưng sau lớp vỏ đó là cái thật, con người thật của họ. Lớp vỏ bên ngoài rất dễ làm cho họ suy sụp, vì nó không là cái vững bền, nếu cứ bám víu vào nó mà không thấy cái bên trong thì không thể có hiệu quả được.

Cái tâm điểm bên trong ấy đã bị phủ mờ đi như thế nào, thưa ông?

Tâm điểm là có sẵn, tôi đã nói, bạn là tốt nhất mà. Rồi do ta sống, ta hành động tạo nên một lớp bao phủ. Không có neo giá trị vững bên trong, sẽ chỉ nhìn thấy và lệ thuộc vào cái bên ngoài.

Ông có thể giống như người thầy thuốc kê ra một cái toa giúp cho việc rèn luyện tìm về bản thân, tìm về tâm điểm được không?

Không một người thầy nào dạy được điều đó, trường học cũng không ai dạy con người cách hiểu bản thân mình, vì sao mình bị stress, gặp bất hạnh, không ứng phó kịp với những thay đổi chóng mặt của thời đại. Tuy nhiên, nếu nói ngắn gọn nhất, bạn có thể làm theo ba bước sau: Thiền, ngồi trầm tư xem xét, suy ngẫm. Thiền tức là dành thời gian thả lỏng cơ thể. Trầm tư để xem xét sâu mọi chuyện. Suy ngẫm là học bài học trải nghiệm đã qua.

Khoa học kỹ thuật ngày nay phát triển như vũ bão, với những mặt tốt ai cũng thấy rõ. Nhưng theo ông, nó có gây hại gì cho lĩnh vực phát triển tinh thần con người không?

Ai cũng biết ngày nay phương tiện hiện đại và phát minh nhiều, con người đã trở nên quá lệ thuộc vào nó, dẫn đến kết quả là lười, không nỗ lực để phát triển bản thân. Rõ nhất là trẻ em lúc nào cũng gắn mình với máy tính.

Trẻ em Việt Nam trong các đô thị lớn cũng trong tình trạng này rồi. Chúng bị nhốt trong bốn bức tường, cha mẹ lúng túng không biết phải làm thế nào, ông có ý kiến gì đóng góp không?

Đây là vấn đề của toàn cầu. Tôi chưa thực sự hiểu nền văn hóa, con người của đất nước các bạn nên chưa thể nói gì được. Mỗi lần đến Việt Nam, tôi chỉ ở được vài ngày.

Theo ông, cha mẹ có thể làm gì để giúp con phát triển tinh thần? Có lý thuyết nói rằng sẽ đến thời kỳ "con cái sẽ dắt ta đi", ông có nghĩ thế không?

Nếu muốn giúp con, trước hết chính cha mẹ phải phát triển mình trước đã, bởi vì con cái noi theo hình ảnh của cha mẹ. Hãy trở thành cha mẹ đúng nghĩa. Bạn cũng đâu biết rõ thế nào là cha mẹ đúng nghĩa, phải không? Chính bạn cũng phải đừng bị lệ thuộc, nghiện ngập phương tiện hiện đại.

Đi học thiền, có thể bên ngoài cười, nhưng bên trong vẫn là mớ hỗn độn những ý nghĩ. Tưởng đã giải tỏa, kiểm soát được tình hình, nhưng khi đối mặt với thực tế cuộc sống lại thấy không dễ?

Chúng ta phải học cách sống từ bên ngoài vào bên trong, đó là một cuộc chuyển dịch rất lớn, phải cần nhiều thời gian. Một hành động nhỏ có thể thực hành là khi về đến nhà, bạn hãy vào phòng tắm nhìn mình trong gương và cười phá lên. Tôi bảo đảm rằng bạn có ba mươi giây tràn đầy hạnh phúc.

Nhưng cũng chỉ được hạnh phúc trong ba mươi giây thôi...

Và là phút khởi đầu.

Thường học thiền xong, người ta thấy bình an, nhưng trở ra với cuộc đời thực thì cảm giác bình an ấy bay đâu mất hết. Phải chăng là vì chưa đủ năng lượng?

Không phải năng lượng, mà là ký ức. Nên nhớ rằng không ai cướp đi được bản tính của mình. Bạn hãy cố nhớ bản tính của mình khi đi vào mọi tình huống của cuộc sống. Khi nào quên, hãy cố nhớ lại. Đến một lúc nó sẽ phát tỏa tự nhiên.

Để đi đến được trạng thái cân bằng, xuất phát điểm đầu tiên của ông là gì?

Muốn cân bằng, điều kiện đầu tiên là phải đứng giữa tâm điểm. Trong cuộc sống, con người ta ai cũng cố đi trên dây, cố giữ thăng bằng, cơ bắp căng lên. Cứ cố thăng bằng thì lại căng thẳng. Đó là sai lầm. Phải tìm ra trung tâm của bản thân mình, nơi nào mà ta có thể hiểu rõ mọi điều và không căng thẳng. Bí mật và cũng là giải pháp thứ hai - đó là có ý thức về bản thân mình, thả lỏng cơ thể không căng thẳng nữa, và bí mật thứ ba là sáng tạo. Khi sáng tạo, bạn sẽ không để ý tới thời gian nữa. Thường là bạn muốn việc gì đó, tức là muốn đến đâu đó, không còn ở đây, không còn hiện diện, quên mất bản thân, và điều đó gây ra sự căng thẳng. Khi ý thức về thời gian, người ta sẽ căng thẳng. Hỏi những người sáng tạo, chúng ta sẽ thấy họ không bị ảnh hưởng bởi điều gì, sự thỏa mãn hài lòng tràn từ bên trong ra. Khi một nhà văn viết, sáng tạo, sự thỏa mãn từ bên trong họ tuôn ra.

Ông cân bằng, tìm ra bản thân lúc bao nhiêu tuổi?

Tuổi tác không liên quan gì đến điều này. Một khi trí não bắt đầu hoạt động, nó luôn sa vào sự so sánh. Mà đang so sánh có nghĩa là bạn đang dịch chuyển khỏi trọng tâm, khiến bạn căng thẳng. Tôi luôn ở trọng tâm, không so sánh mình với ai cả. Tôi hiện diện trong cuộc hành trình của mình. Sự so sánh không nâng cao mình lên được. Cái tôi giả tạo đó làm cho con người căng thẳng hơn nữa. Trong thế giới này, người ta luôn so sánh với người khác, tìm ra phong cách khác, nhiều khi phủ nhận cả bản thân. Con người luôn thấy mình kém cỏi, phải cố làm cái gì đó (có thể thấy rõ nhất điều này trong lĩnh vực quảng cáo). Đó là cách đánh mất bản thân mình.

Khi làm một việc, ông nghĩ gì đầu tiên?

Tôi nghĩ về công việc tôi làm. Tôi tập trung hoàn toàn. Nếu bạn tập trung vào điểm gì đó hoàn toàn, thì điều đó luôn ở trong bạn. Hãy mang nó vào bên trong bạn. Như khi ta miêu tả một câu chuyện bên ngoài, thì câu chuyện đã thực sự diễn ra bên trong người viết. Còn bị phân tán là gì? Chẳng hạn, những mẫu quảng cáo luôn muốn lôi kéo sự chú ý. Chạy theo chúng, ta sẽ bị phân tán. Thế hệ chúng ta hiện nay hoàn toàn bị phân tán. Tưởng rằng thông minh, máy tính, kỹ thuật cao, nhưng quan hệ giữa con người không còn như trước nữa. Ở Hàn Quốc, một đất nước có bước phát triển khoa học kỹ thuật thần kỳ, nền giáo dục đã dùng hoàn toàn sách điện tử và trẻ em thành thạo máy tính tân tiến nhất. Tưởng như máy tính làm mọi thứ thay cả bộ não. Nhưng vẫn có lỗ hổng là không phát triển mối tương giao, quan hệ giữa người và người. Khoa học kỹ thuật không làm được điều đó. Một người trên Facebook có hàng trăm người kết bạn, nhưng thực tế gặp được ngoài đời như người bạn đúng nghĩa được bao nhiêu? Liệu đếm có đủ năm ngón tay không?

Ông rèn luyện thành công như thế, hằng ngày có gặp sai lầm không?

Sai lầm là chuyện tôi gặp thường xuyên.

Con đường nào đi tới trái tim ngắn nhất (người ta nói rằng thông qua... dạ dày)?

Muốn ngắn nhất, nghĩa là bạn lại bận rộn, muốn nhanh, lại né làm việc thực sự rồi. Đây là vấn đề gây ảnh hưởng lên người khác chứ không thể kiểm soát ai cả.

Ông làm thế nào để khỏi bị ảnh hưởng bởi nhiều việc trong cuộc sống?

Tôi không bao giờ cố gắng kiểm soát điều gì. Chúng ta luôn bị ảnh hưởng từ người khác. Sai lầm là ta cố gây ảnh hưởng nên mới kiểm soát. Cha mẹ tin là mình phải kiểm soát con cái. Nhưng con bạn khôn lớn và sẽ có ngày bạn không thể kiểm soát được nữa. Chúng nổi loạn, cha mẹ bực tức. Như vậy, họ đã sai ngay từ ban đầu. Điều các bậc cha mẹ nên làm là rèn luyện mình thành bậc cha mẹ đúng nghĩa để ảnh hưởng tốt tới con chứ không phải là kiểm soát chúng.

Vậy ông có thể định nghĩa thế nào về tâm linh?

Đó là khi tôi nhận thức được rằng tôi không phải là những gì người ta nhìn thấy, ví dụ như tôi tên là Mike George, người Anh, là đàn ông... mà tâm linh tôi là một bản thể, bản tính đích thực, là bình an, dễ thương, có lối sống không bao giờ bị lấy đi mất.

Ông có nghiên cứu đạo Phật?

Không. Nhưng tôi nghĩ mọi tôn giáo trên thế giới này đều đi đến gần tâm linh.

Ứng xử với sự cạnh tranh - một đặc tính bao trùm thời đại - cần phải làm gì, thưa ông?

Tôi chỉ cạnh tranh với chính mình để tốt hơn. Trong kinh doanh, ngay cả khi ta thắng trong cạnh tranh cũng cần ngồi xuống suy ngẫm về mình, về người. Điều quan trọng nhất thời đại này là ai biết đưa ra quyết định đúng. Mà muốn đưa ra quyết định đúng phải dựa vào quan sát tốt.

Một người có câu hỏi thế này: Tôi không tìm thấy điểm cân bằng, luôn bị căng thẳng, thấy mình mắc nợ với xung quanh, với người nghèo khổ. Tôi tìm một vị tu hành xin lời khuyên. Ông ấy nói nhiều nhưng tóm lại phải nhớ một chữ "buông". Nhưng buông rất khó. Ông có thể nói cách nào buông được?

Khi đau nỗi đau của người khác là bạn đang tích trữ nỗi đau vào mình. Không tích trữ nỗi đau thì mới giúp họ được. Đau đớn giùm, hấp thụ sự thua lỗ của người khác, bạn sẽ không giúp gì cho họ được. Nếu giúp, phải thay đổi được câu chuyện của họ mới có giá trị. Bạn có thể áp dụng một bài tập nhanh vài phút học cách buông bỏ: Mở mắt hoặc nhắm, tùy. Nhìn vào sâu tim bạn, trong hai phút điểm lại những phẩm chất bạn có. Rồi rút lui khỏi mọi điều, phóng chiếu khắp cơ thể xem chỗ nào còn căng thẳng. Thư giãn thả lỏng buông trôi. Theo dõi quan sát hơi thở. Tạo ra một ý nghĩ: tôi là một thực thể bình an. Để cho ý đó lan tỏa. Rồi quay trở lại thực tại.

Cảm ơn ông về bài tập thiền cụ thể như vậy. Các cuốn sách của ông đều được dịch ở Việt Nam, có cuốn nào ông cho là đặc biệt nhất và ông đang viết cuốn mới nào nữa?

Tôi viết sách từ cái nhìn chung, tùy vào mỗi người cụ thể mà biết cái nào họ đang cần. Tôi không khuyên bảo điều gì cả. Nhu cầu của họ mới là thật. Còn cuốn sách sắp viết tôi không nói ra trước được. Tôi giữ nó cho công việc của mình.

Ông đi hơn ba mươi quốc gia, nơi nào để lại ấn tượng mạnh nhất?

Không nơi nào nhất cả, mỗi nơi một đặc điểm riêng, nhưng có điểm chung là con người khắp nơi đang chịu những thách thức giống nhau: Hiểu sai lệch về bản thân, gây ra những rắc rối.

Lần trước đến Việt Nam, ông đã là khách mời của chương trình "Người đương thời" của Đài truyền hình Việt Nam. Ông có kỷ niệm gì đáng nhớ không?

Tôi quên rồi. Tôi là người không ở đâu vài ngày được.

Vâng, tôi nhớ ông đã định nghĩa người thành công là người không vướng bận bởi quá khứ, của thế giới xung quanh và biết giá trị của phút giây hiện đang sống. Ông là một chuyên gia tâm lý, một diễn giả hàng đầu thế giới, một tác giả, một chuyên gia kỹ năng mềm. Ông thích được gọi cái tên nào nhất?

Tất cả chỉ là tên gọi thôi. Tôi là người tham vấn, đào tạo giảng viên, không có danh thiếp, tước hiệu. Gọi tôi là gì cũng được, không thành vấn đề.

Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi.
Theo DNSG Cuối tuần (Nguyễn  Thị Ngọc Hải)

Bài đọc thêm:

Chuyển hoá các khoản nợ xấu

[Tài chính marketing] Xử lý nợ xấu vẫn đang là một trong những vấn đề cấp bách đối với nền kinh tế VN và hệ thống ngân hàng ở thời điểm hiện nay. Nhiều phương án đã được bàn đến, nhưng dường như chưa có một phương án nào được... chấm.

Theo đề xuất của TS Lê Xuân Nghĩa - Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, để giải quyết nợ xấu tín dụng hiện nay, chỉ có giải pháp tối ưu là thành lập Cty mua bán nợ quốc gia (AMC).

Khó chứng khoán hoá các khoản nợ xấu

Theo đó, 4 giải pháp cần làm sau khi đã thành lập AMC mà thế giới xưa nay vẫn thường áp dụng: Thứ nhất là cổ phần hóa khoản nợ, theo đó AMC sẽ trở thành cổ đông của chính DN đó dựa trên phần nợ đã mua. Thứ hai là kêu gọi các nhà đầu tư mới đến để bán lại một phần hoặc toàn bộ nợ. Thứ ba là chứng khoán hóa khoản nợ rồi bán. Thứ tư là xóa nợ. Tuy nhiên, trao đổi riêng với DĐDN, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng, nếu áp dụng tại VN thì các giải pháp đều khả thi, loại trừ giải pháp thứ ba, tức là chứng khoán hoá các khoản nợ xấu.

Giải thích việc loại trừ này, TS. Lê Xuân Nghĩa nói: Một trong những mấu chốt căn bản để các sản phẩm chứng khoán hoá có thể phát triển, là thị trường chứng khoán phải phát triển. Trong khi đó, thị trường chứng khoán của VN vẫn còn bé, quy mô chưa đủ mạnh, chưa có các nền tảng để triển khai các công cụ và sản phẩm phái sinh như một thị trường phát triển. Do đó, việc chứng khoán hoá các khoản nợ xấu sẽ rất phức tạp, mất thời gian cũng như kém hiệu quả, thậm chí có thể làm rối rắm thêm thị trường. Đây có lẽ là một ý kiến khá sát sườn với thực tế của chứng khoán VN, sau 12 năm ra đời và phát triển.

Bởi trên thực tế, việc phát triển các sản phẩm phái sinh, trong đó có các sản phẩm chứng khoán hoá bất động sản, chứng khoán hoá các khoản nợ xấu…, hiện cũng mới chỉ nằm trong lộ trình tương lai mà cơ quan quản lý thị trường chứng khoán nhắm đến, vào năm 2014.

Còn nhớ vào năm ngoái 2011, Uỷ ban chứng khoán nhà nước và Bộ Xây dựng cũng đã thảo luận và đưa ra dự thảo Nghị định cho phép thành lập quỹ đầu tư BĐS, niêm yết cổ phiếu hoặc chứng chỉ trên thị trường. Vào lúc đó, sự cho phép sẽ ra đời Quỹ đầu tư BĐS dự kiến hoạt động như một Quỹ tín thác (REIT) đã làm dấy lên niềm hy vọng giải pháp chứng khoán hoá BĐS sẽ tiếp vốn cho thị trường BĐS đang gặp khó khăn. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, chuyên gia chứng khoán Huy Nam cũng đã khẳng định với DĐDN: “Đặt vấn đề chứng khoán hóa trong lĩnh vực BĐS trong điều kiện tài chính tài trợ địa ốc còn quá thô sơ và đơn điệu thì khó thành hiện thực. Hoặc, nói đến phát triển bền vững mà không có một hạ tầng tài chính với các công nghệ và công cụ hỗ trợ chuyên nghiệp chuyên ngành thì chẳng khác chỉ là sự gợi lên điều không thể...”.

Việc chứng khoán hoá các khoản nợ xấu thành ra, cũng phụ thuộc vào các điều kiện tương tự, khi thị trường mua bán nợ của VN vẫn chưa thực sự thành hình, còn thiếu vắng những Cty, tổ chức tổ chức mua bán nợ tư nhân và quốc tế cùng tham gia thị trường. Hơn thế, hành lang pháp lý cho một thị trường thứ cấp, nơi các tài sản thế chấp được đóng gói thành các sản phẩm chứng khoán hoá có thể được trao đổi mua đi bán lại ở VN, cũng rất thiếu khuyết. Không lạ khi một trong 4 giải pháp được cho là “thông thường” trên thị trường tài chính quốc tế dùng để xử lý nợ xấu tín dụng, lại khó khả thi tại VN.

Nhiều phương cách

Nhưng nếu hiểu chứng khoán không quá… cao siêu, nói như ngôn ngữ của ông Nguyễn Hoàng Hải – Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư Tài chính (VAFI), thì ở VN vẫn có thể có điều kiện thực thi chuyển hoá và xử lý nợ xấu bằng chứng khoán hoá. VAFI là tổ chức đã đưa ra 10 giải pháp xử lý nợ xấu, trong đó, “Chứng khoán hoá các khoản nợ khó đòi” được xếp hàng giải pháp thứ 3, tính từ trên xuống. Ông Hải giải thích thêm với DĐDN: Nên hiểu “chứng khoán hoá các khoản nợ khó đòi” ở đây là chuyển hoá các khoản nợ, biến nó thành cổ phần. Tình trạng này có thể xét cho những DN có nguy cơ giải thể, phá sản do không thanh toán được nợ. Khi món nợ NH đã được chuyển thành cổ phần, thì có thể tìm nhà đầu tư, đối tác mua lại nợ với một tỉ lệ sở hữu, chi phối để các nhà đầu tư, đối tác mới có thể tiếp cận và tái cấu trúc DN, quản lý luôn DN. Ông Hải dẫn ra trường hợp của DN – Khách sạn Bảo Sơn trước đây, hay như trường hợp của CTCP Thuỷ sản Bình An mới đây, đã chuyển hoá được một phần khoản nợ thành cổ phần thành công, và từ đó làm đòn bẩy để DN lấy lại sức lực thực thi tái cấu trúc.

Tuy nhiên, nếu nhìn chứng khoán hoá với cách thức biến các khoản nợ xấu thành cổ phần và tìm đối tác, chủ yếu là nhà đầu tư quốc tế tham gia mua lại, thì giải pháp này xem ra lại trùng với giải pháp thứ nhất và giải pháp thứ hai mà TS Lê Xuân Nghĩa đã từng gói gọn.

Trao đổi với DĐDN, chuyên gia cao cấp Ngân hàng Lê Trọng Nhi đưa ra quan điểm khác. Theo ông Nhi, nếu hiểu nôm na và đơn giản, chứng khoán hóa nợ xấu là một phương cách/ kỹ thuật chuyển hóa các khoản nợ xấu (nợ quá hạn trên 90 hoặc 120 ngày…) thành các loại trái phiếu hoặc cổ phiếu khác nhau và các chứng khoán này có thể được bảo đảm bằng những tài sản thế chấp hoặc một định chế tài chính uy tín hoặc cơ quan nào đó của Chính phủ, được đóng gói và bán (đấu giá) trên thị trường, thì việc chứng khoán hóa nợ xấu này đã được áp dụng với VN cách đây gần 20 năm. Đó là trường hợp VN đã thông qua việc giải quyết nợ với Câu lạc bộ London vào cuối năm 1997. Các khoản nợ thương mại của VN không thanh toán theo đó đã được các chủ nợ trong Câu lạc bộ London đồng ý chuyển thành mấy loại trái phiếu – trái phiếu nợ gốc mới, trái phiếu nợ lãi mới… Các chủ nợ cũ nhận các trái phiếu mới này và họ có quyền mua bán trên thị trường trái phiếu quốc tế. “Hẳn nhiên đây là trường hợp đặc biệt mang tính đa phương có sự tham gia của Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế và Bộ Tài chính Mỹ… Nhưng đó là một trải nghiệm cần được tham chiếu” - ông Nhi nói.

Xét trong tiền lệ quá khứ, thông lệ quốc tế hay thực tế VN hiện tại, rõ ràng, tuy chứng khoán hoá các khoản nợ xấu, đóng gói nó và mang bán trên thị trường chứng khoán VN sẽ là “nhiệm vụ bất khả thi”, nhưng lại vẫn là một hướng đi có thể xem xét. Chứng khoán hoá, chuyển hoá các khoản nợ bằng cách này hay cách khác, đóng gói bán ngay hoặc sau khi chuyển hoá có thể tạm “đóng băng” khoản nợ, chờ nền kinh tế toàn cầu phục hồi mới mang bán… đó đều là những phương cách, những gợi mở mà dù với cái giá phải trả nào, các nhà hữu trách cũng nên tính toán để tránh cho nền kinh tế suy yếu thêm trong chờ đợi. 
--------------------
Ông Lê Trọng Nhi - Chuyên gia ngân hàng:

Để kích hoạt và giải phóng cục máu đông nợ xấu, đã có nhiều ý kiến và giải pháp được đề cập từ các chuyên gia và cơ quan hữu quan. Tuy nhiên, dường như vẫn còn có những bất cập và bất ổn trong cách đặt vấn đề mà theo tôi thấy đúng ra không cần thiết tại thời điểm này. Chẳng hạn như mua tỉ lệ nào? Nên để ngân hàng phá sản không? Cty mua bán nợ có vốn nhà nước không và nếu có thì bao nhiêu?...Vấn đề nợ xấu của VN hiện nay lớn hơn nhiều, cơ cấu cũng khác hơn và nhất là những hệ qủa của nó trên nền kinh tế không những cao hơn nhưng còn nghiêm trọng nhiều lần hơn. Bất kể loại nợ xấu từ lĩnh vực BĐS hoặc từ nào khác đều có một mẫu số chung lớn: Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đang làm nghẽn nguồn và dòng vốn cần thiết cho nền kinh tế; nền kinh tế đang bị tổn thương và chính sách tiền tệ bị méo mó. Phải giải quyết và càng nhanh càng tốt. Bên cạnh cái giá tài chính tiền tệ mà toàn xã hội đang và sẽ phải gánh chịu thì còn cái giá lớn khác và lắm khi trở nên khó khăn hơn cho sự sự lựa chọn của các nhà quản lý. Tôi nghĩ, VN chúng ta vẫn đang bị loay hoay giữa việc lựa chọn cho cái giá phải trả. Nhưng cần lưu ý là càng chờ thì nợ càng lớn và càng lớn thì tốc độ kinh tế suy yếu sẽ càng nhanh. Phải nhanh chóng chấp nhận một cái giá nào đó – mà giá đó chỉ có các nhà quản lý mới có thể trả lời!”. 

TS Lê Xuân Nghĩa - Nguyên Phó Chủ tịch UBGSTC quốc gia:

Nhiều người băn khoăn khi tôi đặt ra vấn đề nên thành lập Cty mua bán nợ Quốc gia và sau đó còn đưa ra giải pháp xoá nợ. Tôi không hiểu tại sao chúng ta không thể đặt ra vấn đề xoá nợ. Quan điểm của cá nhân tôi cho rằng mua nợ rồi, vẫn có thể xoá nợ. Nông dân vay nợ ngân hàng nhưng do những lý do khách quan mất mùa, thiên tai, địch hoạ…, thì các NH vẫn có chính sách xoá nợ. Nay nền kinh tế khó khăn, NH khó khăn, DN khó khăn, Cty mua bán Quốc gia cũng có quyền xoá nợ một phần hoặc tất cả chứ, tại sao không? Cũng cần thấy rằng việc thành lập Cty mua bán nợ Quốc gia trị giá 200 ngàn tỉ đồng, là không phải là bơm ra một lúc 200 ngàn tỉ đồng để gây áp lực lạm phát lên nền kinh tế (đã có những lo ngại như thế). Chúng ta dùng trái phiếu để mua nợ, chiết khấu dần dần, tuỳ thuộc vào sức khoẻ của ngân hàng, của nền kinh tế, tuỳ thuộc năng lực thương thảo chiết khấu. Như vậy, khoản nợ sẽ được xử lý sớm, sẽ không có tình trạng nợ chồng nợ gây viễn cảnh suy giảm liên miên của nền kinh tế trong tương lai! Mỗi người có một đề xuất, ý kiến khác nhau nhưng tôi vẫn cho rằng lập AMC là giải pháp khả thi nhất đối với tình hình hiện nay.
--------------------
Theo DĐDN (Lê Mỹ)

Các bài khác:

Kỹ năng giao tiếp: Giao tiếp có duyên

[Kỹ năng marketing] 1. “Tâm” và “Duyên”: Có người bạn hỏi tôi câu hỏi thật hay: “Làm sao để luyện tập cái duyên?” Tôi chưa dám trả lời vội. Nhưng câu hỏi ấy theo tôi suốt từ khi nó được đưa ra cho đến hôm nay tôi mới đặt bút trình bày ra đây. Tôi cho rằng: Cái duyên là cái tự nhiên, không nên đặt vấn đề luyện tập nếu chưa nghĩ đến cái tâm. Hai yếu tố này có liên quan với nhau trong thể hiện phong cách giao tiếp của bạn.


Picture11-(1).png

Nhìn sơ đồ với 2 biến số “Duyên” và “Tâm” ta có thể dễ dàng nhận ra 4 vùng kết quả:
  • Vùng A: Người giao tiếp kém duyên nhưng động cơ giao tiếp tích cực sẽ cho người đối thoại cảm giác về một phong cách “mộc mạc”;
  • Vùng B: Vừa có duyên vừa giao tiếp với động cơ trong sáng. Đây rõ ràng là một người “hoạt bát”
  • Vùng C: Đã không có ý đồ tốt đẹp trong mục tiêu giao tiếp mà còn thiếu tài ăn nói thì không khỏi tạo ra ấn tượng “trơ tráo”. Ăn nói như vậy mà không biết mắc cở?
  • Vùng D: Người có tài ăn nói nhưng vẫn không thuyết phục được nhiều người vì tâm địa đen tối thể hiện qua những cái duyên chết người của một tính cách “giảo hoạt”.

2. Chữ “Tâm”:
Vậy, chữ “Tâm” trong giao tiếp là gì? Sao nó quan trọng đến thế?
Chúng ta hãy tham khảo lý thuyết về “Ba vòng tròn vàng” (The golden circles) của Simon Sinek.

Picture12-(1).png
Simon Sinek với lý thuyết Golden circles

Theo Simon Sinek, giao tiếp hiệu quả nhất là trước tiên hãy cho đối tác thấy lý do mình muốn giao tiếp với họ (WHY?). Vòng tròn WHY này tương ứng với những cảm giác cơ bản nhất (sợ hãi, thèm, hung dữ, đói…) được não dưới (reptilian brain, brain sterm, cerebellum) điều khiển. Khi đối tác đã được rõ WHY rồi, lúc đó những phần não khác, não giữa (limbic, HOW) quyết định cảm xúc, vỏ não (cortex, WHAT) phân tích, phán đoán… mới thực sự làm việc hiệu quả.

Phần não dưới rất nhạy cảm với cái tâm của đối tác trong giao tiếp. Nó không phải là ý thức của vỏ não nên đối tác không bịết chắc là tại sao, mà họ chỉ trực cảm được điều gì đó mách bảo về cái tâm của đối tác. Hẵn bạn cũng đã từng nhiều lần tự nhủ “Không biết ở anh này có điều gì đó, nhưng tôi không tin tưởng anh ta được” hoặc ngược lại “Chưa biết anh ấy giỏi đến đâu, nhưng mình có cảm giác đây là tay chơi được”. Thật vậy, một khi tạo được cho đối tác cảm giác “cùng phe”, cùng một niềm tin… bạn mới thực sự khởi sự giao tiếp hiệu quả. Cũng như khi bán một món hàng mà khách hàng có cảm giác bạn đang cùng với họ đưa ra giải pháp cho vấn đề thì họ mới thực sự lắng nghe bạn trình bày WHAT và HOW của món hàng. Đó là nhờ bạn đã bán được cài WHY cho khách hàng trước khi dùng cái HOW và WHAT để thuyết phục. Simon Sinek luôn nhấn mạnh “People don’t buy what you do, but they buy WHY you do it”. 

Picture13.png

Hoặc một câu châm ngôn rất nổi tiếng về kỹ năng bán hàng cũng nói điều tương tự: “People don’t care how much you know until they know how much you care”. Tạm dịch “Khách hàng không cần quan tâm bạn hiểu biết đến đâu, cho tới khi họ nhận thấy bạn thực sự quan tâm đến họ”. Người bán hàng với cái tâm thực sự muốn điều tốt cho khách hàng thì kỹ năng (HOW) và kiến thức (WHAT) mới có đất dụng võ. Người bán hàng thành công trong giao tiếp với khách hàng chủ yếu là nhờ có cái tâm. Yếu tố tâm đóng vị trí là một hệ số nhân, trong khi kỹ năng và kiến thức chỉ là ở vị trí cần có nhưng chưa phải là tất cả.

3. Chữ “Duyên”
Người đẹp chưa chắc đã có duyên, người không đẹp chưa chắc đã vô duyên. Chúng ta hãy cùng nhau xem thử cái “Duyên” là gì?

Các tiêu chí để đánh giá ngoại hình có thể khác nhau do văn hoá, thời đại và đặc biệt do thị hiếu nghệ thuật của từng cá nhân. Nhưng đại loại, nó vẫn có một số chuẩn mực chung. Nhất là ở thời đại hiện nay, con người thường làm việc, giao tiếp nhau trong một môi trường đa văn hoá (multi-cultural environment). Ngoại hình rõ ràng là có ảnh hưởng rất đáng kể đến vấn đề giao tiếp (inter-personal communication). Mà giao tiếp lại quyết định sự thành công trong sự nghiệp hoặc cả cuộc đời. Tuy nhiên, nếu nói về ngoại hình thì phải xét 2 loại: "Ngoại hình tĩnh" và "Ngoại hình động". Thật vậy, nhiều người trông có bộ dạng ngon lành nhưng khi tiếp cận lại thấy không có duyên. Ngược lại có nhiều người "trông có vẻ không đẹp người nhưng lại đẹp nết, có duyên".

3.1. Ngoại hình tĩnh:
Đó là tất cả những yếu tố về thể chất của mỗi cá nhân. Chiều cao, cân nặng tạo ảnh hưởng nhiều trong giao tiếp. Bạn cảm thấy thế nào khi nói chuyện với một người có chiều cao hơn bạn, bạn luôn phải ngước mặt lên cao? Rõ ràng về mặt tâm lý bạn có cảm giác mình yếu thế hơn. Một câu nhận xét sẽ có sức thuyết phục nhiều hơn khi nó phát xuất từ một khuôn mặt có cái trán cao. Một nụ cười sẽ quyến rũ hơn ở một cặp môi mọng. Một cái nhìn sẽ sắc sảo hơn từ một cặp mắt sáng với đuôi lông mày dài, rậm... Rất nhiều chi tiết về ngoại hình thể chất giúp cho việc giao tiếp hiệu quả hơn.

3.2. Ngoại hình động:
Hãy tưởng tượng là chúng ta đang xem phim (moving pictures) chứ không phải xem ảnh (still picture). Bạn sẽ nhìn ngoại hình thể chất đó từ nhiều góc nhìn khác nhau và với những cử động thân thể (gestures) khác nhau. Trong trường hợp này, ưu thế sẵn có của ngoại hình tĩnh đôi khi chưa chắc là đã được phát huy nếu những cử động thân thể ấy không thích hợp. Một đôi vai rộng với cánh tay dài mà khi nói chuyện cứ khoanh trước ngực sẽ tạo một rào cản giao tiếp (communication barrier). Trầm trọng hơn nữa khi hai bàn tay cứ chắp sau đít hoặc khư khư trong túi quần, sẽ tạo cho đối tác một cảm giác bí mật, giấu giếm một chuyện gì đó, không chân thật. Một cái trán cao, thông minh, nhưng khi nói chuyện cứ cúi gằm ra vẻ đăm chiêu, thiếu tự tin cũng làm mất đi sức thuyết phục. Một cặp mắt đẹp mà khi nói chuyện không nhìn thẳng vào mắt người đối diện (eyes contact) sẽ biểu lộ sự thiếu thành thật.

Và còn nhiều cử động thân thể khác, liên tục gộp với nhau lại thành một thứ ngôn ngữ bất thành lời (non verbal language) mà trong giao tiếp người ta thường gọi là ngôn ngữ thân thể (body language). Chính loại hình ngôn ngữ này nếu biết sử dụng sẽ giúp phát huy vốn trời cho "ngoại hình tĩnh".Nếu bạn may mắn có được một ngoại hình đẹp thì hãy tạo thêm cho nó một vẻ duyên dáng. Điều đó quyết định rất nhiều trong giao tiếp hàng ngày dẫn đến thành công cho bạn. Ngược lại, nếu ngoại hình bạn không bắt mắt, đừng tự ti. Hãy rèn luyện cái duyên, lưu ý tập thành phản xạ những ngôn ngữ thân thể thích hợp. Bạn vẫn thành công. 

4. Giao tiếp có duyên:
Bước lên bục thuyết trình, hoặc đứng đối diện giao tiếp với một đối tác cũng vậy, nếu trong tâm bạn chưa an thì bạn rất khó thuyết trình, mất tự nhiên giao tiếp. Điều gì xãy ra trong tâm bạn lúc đó? Thường thì bạn cảm thấy thiếu tự tin. Có hai trường hợp được đặt ra cho sự thiếu tự tin của bạn:

4.1. Thiếu tự tin:
Thiếu tự tin vì mình tự đặt cho mình mục tiêu quá cao làm mình lo âu khi giao tiếp.

Khi giao tiếp bạn mãi tập trung vào những điểm yếu của mình (ngoại hình, giọng nói…) mà quên chú ý vào người đối thoại và bản thân nội dung trao đổi. Thuyết trình viên thiếu tự tin là vì chưa chuẩn bị đâu vào đấy bài thuyết trình, vì trong thành phần cử toạ có nhiều người hiểu biết rộng hơn mình, vì lo sợ không đủ thời giờ cho bài thuyết trình…

Còn rất nhiều lý do đa dạng khác làm cho bạn thiếu tự tin khi giao tiếp, khi thuyết trình. Hãy trang bị cho mình một lối suy nghĩ tích cực. Hãy tin tưởng rằng người đối thoại cũng sẽ ;lắng nghe mình vì mình muốn điều tốt cho cả hai. Hãy tin tưởng rằng cử toạ không phải bỏ thời giờ đến đây là để chỉ trích mình, mà họ cũng thật sự muốn được tham dự một bài thuyết trình hay, họ cũng muốn bạn thuyết trình lôi cuốn, thành công. Hãy cho rằng khi bạn đứng trên bục thuyết trình là để chia sẻ thông tin, quan điểm chứ đừng tự bắt buộc là người phải hiểu biết hết và có cái nhìn đúng tuyệt đối.

Từ lối suy nghĩ tích cực đó, cái tâm của bạn sẽ an. Lúc đó cái duyên mới phát huy theo chiều hướng A đến B (Mộc mạc đến hoạt bát). Sự tự tin sẽ giúp bạn diễn đạt một cách hài hài hoà kết hợp giữa lời nói và ngôn ngữ thân thể.

4.2. Thiếu thành thật:
Trường hợp này thì quá tệ. Lúc đó, nếu bạn ăn nói có duyên thì cái duyên đó cũng chỉ di chuyển trong phạm vi từ C đến D (Trơ tráo đến Giảo hoạt). Do vậy, khi giao tiếp, bạn phải thực sự tin tưởng vào điều mình nói ra. Khi giới thiệu một món hàng, bạn phải thực sự tin rằng món hàng này có lợi cho khách hàng, hoặc chí ít là món hàng đó có một đặc điểm (F: Feature) mang đến lợi ích (B: Benefit) cho một nhu cầu bức thiết cá biệt nào đó của khách hàng. Khi thuyết trình, bạn thường thiếu tự tin khi mình cố trả lời cho qua một câu hỏi ngoài tầm hiểu biết của mình. Sự thiếu thành thật đó sẽ thể hiện ra ngôn ngữ thân thể của bạn.

5. Tâm và Duyên: 
Hai yếu tố của một người giao tiếp, một thuyết trình viên chuyên nghiệp:
Một người có ngoại hình đẹp chưa chắc đã ăn nói có duyên. Ngược lại, yếu thế về ngoại hình chưa phải đã là dấu chấm hết cho một thuyết trình viên chuyên nghiệp.

Trong giao tiếp với cá nhân hay với cử toạ, điều cốt yếu là bạn phải tự tin rằng mình đang mang lại điều tốt cho mọi người và cho mình. Với cái tâm trong sáng đó, bạn sẽ tự tin hơn. Chỉ lúc đó, ngôn ngữ thân thể của bạn được “mở chốt” từ trong vô thức. Bạn khó điều khiển được ngôn ngữ thân thể bằng ý thức, nhưng cái tâm trong sáng sẽ giúp bạn điều khiển nó một cách hết sức hiệu quả.

Võ Hoàng Nguyên
Đặc san Văn hoá Phật giáo
Ấn phẩm mùa thu 2011 – PL 2555