Showing posts with label Nghiên cứu Marketing. Show all posts
Showing posts with label Nghiên cứu Marketing. Show all posts

Friday, February 15, 2013

Khi Trung Nguyên đối đầu với Starbucks

[Thương hiệu] Tuy Trung Nguyên và Starbucks khác nhau, nhưng giống nhau ở một điểm: Trong lúc uống ly café cạn tới đáy để tìm triết lý hay ngắm người đẹp ngồi đối diện mà chẳng ai nhớ rằng, cái ví đang bị móc một cách khéo léo.

Người Việt ta sang Mỹ lần đầu đều bị choáng bởi cái gì của họ cũng to, từ cốc coca đến bánh mỳ, từ đường xá đến cao ốc. Ly café Trung Nguyên nhỏ giọt vài hớp là hết, cốc giấy café Starbucks nửa lít, uống no cả ngày.

Nơi ...ào ào, nơi nhẩn nha ngó trời đất

Starbucks mở ở Việt Nam, thời gian đầu sẽ bị lỗ, vì cách thưởng thức café ở hai nơi khác nhau.

Một nơi ào ào đến, ào ào đi, cười đấy, khóc đấy, làm gì cũng nhanh, vì tác phong công nghiệp.

Một nơi phải nhẩn nha, ngó trời đất, đọc thơ, khoe Facebook. Uống café ực phát hết cốc, người ta gọi là "phàm phu tục tử".

Starbucks khó mà sống ở Hà Nội bởi tên tuổi như café Nhân, Lâm, Giảng... đã đi vào huyền thoại. Cánh xa xứ thường tìm về bởi những bài báo ca ngợi chốn lãng đãng ở góc phố cổ đã nhuốm mầu thời gian.

Thời thế đổi thay, nay có thêm Highland, Trung Nguyên và nhiều tên tuổi gợi cho ta tính trẻ trung và ăn nhanh nhiều hơn là thứ café Nhân "nhỏ giọt" tý tách cả ngày.

Anh Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ hãng Trung Nguyên, mới đây tuyên bố, anh muốn lãnh đạo café thế giới, khi nghe tin Starbucks mở cửa đầu tiên vào tháng 2-2013 tại tp. Hồ Chí Minh. Không sợ cạnh tranh cũng đúng vì anh cho rằng, Starbucks chỉ là "người khổng lồ không có bản sắc".

Anh Vũ nói có lý của anh ấy, bởi Trung Nguyên rất giầu. Chiến lược quảng cáo hoành tráng, hệ thống cửa hàng khắp nước, nhãn hiệu xuất hiện tại 60 nước trên thế giới.

Với 150 ngàn nhân viên, Starbucks cũng tự tin bởi doanh thu hàng năm hàng chục tỷ đô la với hơn 20.000 cửa hiệu tại 61 quốc gia. Riêng tại Mỹ có hơn 13 ngàn, 1300 tại Canada, gần 1000 tại Nhật và Thái Lan có tới 164 cửa hàng.

Nhãn hiệu là nàng tiên cá xõa tóc hai bên, nhìn người uống đắm đuối. Ngắm người đẹp sẽ thấy cả kho chuyện đời, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện ngày mai. Đôi mắt bảo ta hãy chia sẻ, bởi triết lý nằm dưới đáy cốc, không phải hương vị.

Mới đây hãng bỏ hẳn chữ Starbucks Coffee ra khỏi logo, ngoài chuyện muốn bán thêm đồ ăn khác, bởi họ tự tin, biết hàng trăm triệu khách nghiện chỉ cần nhìn nàng tiên cá cũng biết giấc mơ Mỹ đây rồi.

Lần đầu thử Starbucks thấy nhạt như nước lã, không biết pha sữa và đường thì chỉ còn cách đổ đi. Nhưng uống lâu lâu cũng thấy ngon và nghiện như ai. Nó giống thứ... dân chủ Mỹ ngấm từ từ, thay đổi bạn lúc nào không biết. Không ồn ào như lúc họ pha café bằng máy chảy nhanh như vòi nước và uống như nước giải khát. Sức mạnh mềm Hoa Kỳ đến từ từ bằng fast food.

Café Trung Nguyên thơm lừng, pha tầng 9, tầng 10 ngửi thấy, tầng 8 cũng biết. Nhấm nháp thấy hương vị đời sao mà đẹp hơn tiên. Văn hóa café "phin" nhỏ giọt đã ngấm vào người thưởng thức nên sự năng động của xã hội cũng kém đi nhiều. Đất nước chuyển mình chậm bởi người dân đi làm sáng còn la cà quán xá, đợi "phin" chảy hết nước sánh thơm ngon xuống cốc.

Giấc mơ Mỹ có đứng nổi trên đất Việt?

Hoa Kỳ sinh sau ta tới mấy ngàn năm, nhưng đi lại trước ta khá xa, bởi quảng cáo Starbucks đơn giản "Your drink should be perfect every time. If not, let us know and we'll make it right. - Ly café phải luôn tuyệt vời. Nếu không, xin nói, chúng tôi sẽ pha như quí vị muốn".

Starbucks đã vào Sài Gòn trong tháng trước. Tên gốc lấy từ một nhân vật Starbucks trong truyện chú cá voi Moby-Dick khổng lồ thắng cả người có trí khôn. Bạn đọc tới thử và nhớ phản hồi trên mặt báo.

Nếu sau ba tháng mà Starbuck không thuyết phục nổi bạn, thì ước vọng của anh Đặng Lê Nguyên Vũ lãnh đạo thế giới café thành hiện thực và giấc mơ Mỹ khó có chỗ đứng trên đất Việt.

Có lẽ nào, café hạt của Việt Nam nổi tiếng, xuất khẩu đứng thứ hai và chiếm tới 14,5% thị trường thế giới, chỉ đứng sau Brazil, mà sản phẩm đầu cuối là ly café bốc khói lại không thể là thương hiệu quốc tế.

Starbucks vào Việt Nam sẽ giúp cho hương vị café Việt Nam bay xa nếu như ta biết đối mặt với thách thức, có những bước đi thích hợp nhằm cải tiến chất lượng, cách phục vụ và quan trọng là giá cả hợp lý.

Nói vui thêm chút. Tuy Trung Nguyên và Starbucks khác nhau, nhưng giống nhau ở một điểm: Trong lúc uống ly café cạn tới đáy để tìm triết lý hay ngắm người đẹp ngồi đối diện mà chẳng ai nhớ rằng, cái ví đang bị móc một cách khéo léo.

Hiệu Minh (từ Washington DC)
Nguồn: tuanvietnam
Tin bài khác:

Thursday, February 14, 2013

GDP đầu người Việt Nam 3.000 USD vào năm 2020?

[Tài chính marketing] Để đưa xếp hạng tín nhiệm tối thiểu bằng mức khởi điểm đầu tư, Việt Nam đặt mục tiêu cụ thể, đến năm 2020, GDP theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD.

Theo Đề án nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia được Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt, đến 2020, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam sẽ tối thiểu bằng mức khởi điểm đầu tư (Baa3 đối với xếp hạng tín nhiệm của Moody’s hoặc BBB- đối với xếp hạng tín nhiệm của S&P hoặc Fitch).

Tại Đề án, một loạt chỉ tiêu cụ thể đã đưa ra để đạt mục tiêu trên cũng như nâng cao nội lực của nền kinh tế.

Theo đó, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7-8%/năm trong giai đoạn 2011-2020. Đến năm 2020, GDP theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD.

Đồng thời, tiếp tục xử lý tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư; có chính sách khuyến khích tăng tích luỹ cho đầu tư phát triển. Tỷ trọng đầu tư toàn xã hội duy trì trong khoảng từ 33-35% GDP, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư công, phấn đấu đưa chỉ số ICOR về mức trung bình so với các nước có cùng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Đề án cũng đưa ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11-12%/năm trong giai đoạn 2011-2020, trong đó giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016-2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm. 

Thâm hụt thương mại sẽ được thu hẹp dần và kiểm soát nhập siêu ở mức dưới 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2015, tiến tới cân bằng cán cân thương mại vào năm 2020.

Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng phấn đấu chỉ tăng khoảng 5-7% vào năm 2015 và được tiếp tục duy trì ở mức hợp lý trong giai đoạn 2016-2020.

Đề án cũng nêu mục tiêu phấn đấu giảm thâm hụt cán cân vãng lai, ổn định cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và tiến tới thặng dư. Tăng mức dự trữ ngoại hối nhà nước đạt ít nhất 12 tuần nhập khẩu, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và đạt mức mức trung bình so với các nước có cùng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước giảm xuống dưới 4,5% GDP vào năm 2015 và khoảng 4% GDP trong giai đoạn 2016-2020.

Ngoài ra, nợ công (bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến năm 2020 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 55% GDP; nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Qua Đề án, Thủ tướng yêu cầu trong điều hành, các cơ quan chức năng thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt; chính sách tài khóa chặt chẽ, hiệu quả; thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của nhà nước đối với một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu.

Trong đó, Việt Nam sẽ kiểm soát tỷ trọng dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích ở mức độ hợp lý và hạn chế nợ xấu. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước sẽ theo hướng tăng cường đầu tư cho con người, gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. 

Rà soát, sắp xếp lại danh mục đầu tư, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung vốn cho các dự án cấp thiết, sớm hoàn thành, ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực, dự án có tác động lan tỏa cao, tạo ra tiền đề để tái cơ cấu nền kinh tế.

Chính sách nhà nước tôn trọng quyền tự định giá, thoả thuận giá, cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật. Công khai, minh bạch giá các hàng hóa, dịch vụ, đi đôi với các giải pháp hỗ trợ hợp lý cho sản xuất gặp khó khăn và thực hiệc chính sách an sinh xã hội trong từng giai đoạn.

Bích Diệp
Nguồn: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/gdp-dau-nguoi-viet-nam-3000-usd-vao-nam-2020-696164.htm

Tin bài khác:

Sunday, July 22, 2012

Cấp quản lý: Nữ giới - nhiều hơn một nửa

[Học marketing] Câu trả lời cho nỗi lo thiếu hụt quản lý cao cấp tại các doanh nghiệp châu Á là: phụ nữ.

Theo báo cáo của Tổ chức Tư vấn McKinsey, tại phương Tây, phụ nữ chiếm khoảng 10-20% trong bộ máy quản lý doanh nghiệp. Trong số 500 công ty lớn nhất nước Mỹ, tổng giám đốc nữ chiếm khoảng 30%.

Con số này càng cho thấy rõ khoảng cách tụt hậu của phụ nữ châu Á. Mặc dù cũng có ngoại lệ như Singapore nhưng xét toàn châu Á thì tình hình nữ quyền trong doanh nghiệp khá tồi tệ.

Tại những quốc gia có nền kinh tế hiện đại Nhật Bản và Hàn Quốc, phụ nữ có thể ngồi cùng với nam giới chỉ là khi họ... phục vụ trà nước. Một trong những lý do giải thích vai trò thấp yếu của phụ nữ trong doanh nghiệp châu Á là vì nữ giới chiếm tỷ lệ rất thấp trong lực lượng lao động của doanh nghiệp so với doanh nghiệp phương Tây, nơi có tỷ lệ nữ giới tham gia lên tới 60-70%. 


Tại Ấn Độ chỉ có một trong số ba người phụ nữ có một công việc chính thức, mặc dù có hàng chục triệu phụ nữ quần quật trong các trang trại và trong các doanh nghiệp gia đình. Giáo dục cũng có thể tạo ra sự bất bình đẳng. Trong năm 2009-2010, chỉ có 10-15% sinh viên nữ nhập học tại Viện Quản lý Ấn Độ.

Nhưng thực tế, ngay cả ở các nước có tỷ lệ nữ cử nhân cao thì bậc thang của phái yếu trong các công ty vẫn vô cùng thấp. Thậm chí, một thống kê không vui với chị em là trong số phụ nữ có học vấn cao đẳng hay đại học, chỉ có dưới 30% được thuê và họ thường chỉ được làm các công việc phụ. 

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: đó là tâm lý trọng nam khinh nữ còn nặng nề; ngoài ra là gánh nặng trong công việc và trách nhiệm gia đình khiến nữ giới không thể tập trung cho công việc. Ở châu Á, một trở ngại trong việc xóa bỏ khoảng cách giới là thiếu các dịch vụ công cộng để hỗ trợ các gia đình, chẳng hạn như chăm sóc trẻ em.

Vì vậy, một câu hỏi đặt ra là cho đến khi nào châu Á bắt kịp với phương Tây? McKinsey sau khi nghiên cứu 744 công ty lớn và phỏng vấn 1.500 giám đốc điều hành trong 10 quốc gia châu Á rút ra kết luận: không giống công ty phương Tây, các nhà quản lý cấp cao châu Á không quan tâm đến chủ đề giới tính trong quản trị. Khoảng 70% trong số họ đã không nhìn thấy “sự đa dạng giới tính” như là một chiến lược ưu tiên trong phát triển doanh nghiệp.

Theo McKinsey, khoảng cách giới trong doanh nghiệp là một sai lầm có tính dài hạn. Hiện nay, thực tế đã chứng minh nhiều công ty rất thành công khi có tỷ lệ quản lý là nữ cao.


Chẳng hạn như công ty mỹ phẩm Nhật Bản Shiseido, thậm chí là cả một công ty kỹ thuật lớn như Cisco cũng tuyển mộ nhiều nữ quản trị. Một nghiên cứu năm 2011 của Công ty Heidrick & Struggles cho thấy, một phần ba giám đốc điều hành của các công ty lớn châu Á lo ngại về thiếu hụt quản lý cấp cao trong vài năm tới.

Khi các quốc gia châu Á nổi lên với các nền kinh tế thị trường mới, và với các giá trị văn hoá xã hội thường xuyên thay đổi, thì vai trò của phụ nữ phải được xem xét đầy đủ và phải được xác định rõ. Khác với nhiều nước phương Tây đã trải qua công nghiệp hóa trên 100 năm, nhưng thay đổi ở châu Á đang diễn ra với nhịp độ rất nhanh.

Phụ nữ phải được trang bị tri thức và chuyên môn để đáp ứng được những thay đổi này. Hiện nay các nước đang chú trọng việc đào tạo phụ nữ trong lĩnh vực quản lý. “Tất nhiên thay đổi này khó có thể diễn ra nhanh chóng nhưng câu trả lời sẽ có trong 5-10 năm tới”, báo cáo của McKinsey nhấn mạnh.

Theo DNSG (Hà Cúc)

Thursday, July 19, 2012

Vì sao dân châu Á thích định cư ở Mỹ?

[Học marketing] Môi trường chính trị, giá cả sinh hoạt, dân số, tính cạnh tranh, cơ hội giáo dục, cơ hội đầu tư... là những lý do khiến ngày càng có nhiều người châu Á muốn rời quê hương để định cư tại Mỹ.

"Tôi nghĩ Hong Kong là một thành phố kinh doanh", cô Annabelle Cheng vừa tốt nghiệp Đại học Baptist Hong Kong chuyên ngành Tôn giáo và Chính trị nói. "Nhưng chi phí sinh hoạt tại một thành phố năng động là điều khiến bạn không có không gian riêng của mình".

Điều kiện sống tại một thành phố đông đúc và hối hả là một phần trong những lý do mà Cheng muốn chuyển tới sống ở Mỹ. "Tôi thực sự cần nhiều thời gian và không gian để suy nghĩ, tĩnh tâm và tìm cảm hứng." Cheng đang lên kế hoạch tiết kiệm tiền và nộp đơn theo học chương trình âm nhạc dành cho bậc sau đại học ở Mỹ trong vòng hai năm.

Cheng không phải là trường hợp duy nhất. Bất chấp sự giàu lên trông thấy ở châu Á, tháng trước, Trung tâm nghiên cứu Pew đã đưa ra báo cáo trong đó chỉ rõ, người châu Á đã vượt người gốc Latin trở thành nhóm nhập cư lớn nhất vào Mỹ.Và trường đại học thường là cửa ngõ cho định cư: Gần một nửa dân nhập cư châu Á có bằng Đại học hoặc sau đại học, so với con số 13% người gốc Latin.

"Có hàng ngàn sinh viên Trung Quốc đến Mỹ theo học", Yeung Yue-Man, Giáo sư Đại học Hong Kong Trung Hoa chuyên ngành phát triển cho biết. "Xu hướng này ngày một tăng trong hai thập kỷ qua kể từ khi người Trung Quốc bắt đầu giàu có hơn trước đây và họ có đủ khả năng chi trả mức học phí cao."

Cũng theo một báo cáo của Hội đồng các trường Đại học, Trung Quốc dẫn đầu số lượng đơn xin học Đại học tại Mỹ, kế đó là Ấn Độ và Hàn Quôc.

Sean Luo lần đầu tiên đến Mỹ năm 2000 để theo học đại học sau khi làm việc cho một tập đoàn viễn thông nhà nước Trung Quốc. Sau khi có bằng đại học, anh quyết định ở lại. Sean Luo có thẻ định cư vào năm 2006 và giờ đang quản lý công ty viễn thông riêng của mình tại Lost Ageles. "Bất kể bạn là ai, cơ hội ở Mỹ của bạn đều bình đẳng với mọi người", Luo nói.

Mặc dù có đôi lúc nghĩ về việc quay lại Trung Quốc, chi phí sinh hoạt ngày càng cao và môi trường chính trị bất ổn vẫn khiến anh muốn ở lại Mỹ. "Các nước châu Á đang ngày càng đông, cạnh tranh ngày càng cao trong khi nguồn lực ngày càng ít. Chúng tôi thấy hợp lý khi nhập cư vào những quốc gia ít người và nhiều tài nguyên".

Một doanh nhân Trung Quốc vừa đưa cả gia đình đến Los Angeles nói rằng, anh chuyển đến Mỹ để cho con cái có cơ hội giáo dục tốt hơn."Trung Quốc không phải là nơi tốt nhất để nuôi dạy con trẻ", người đàn ông 40 tuổi nói, và muốn giữ kín danh tính để không ảnh hưởng đến công việc kinh doanh và gia đình anh ở Trung Quốc.

Nói về bản thân, anh rời Trung Quốc vì cảm thấy bất an trong một xã hội mà chính phủ có tiếng nói quyết định trong mọi việc. "Mọi cá nhân nên được bảo vệ bởi luật pháp và cam kết của mọi người trong việc tuân thủ luật pháp. Ở đây (Mỹ) mọi người để tâm vào việc của mình, chẳng mấy ai thích đánh giá người khác."

Đó là lý do chung khiến tầng lớp nhà giàu Trung Quốc di cư. Một nửa số tỷ phú Trung Quốc được hỏi năm ngoái trả lời họ đang nghĩ đến việc di cư, trong đó Bắc Mỹ là lựa chọn đầu tiên.

Một lý do khác khiến người Trung Quốc di cư là việc đầu tư. "Nhờ bất động sản, nhiều người Trung Quốc giàu lên, họ muốn tìm những nơi để tiếp tục đầu tư", Yeung nói. "Các thành phố Mỹ ngày càng trở nên hấp dẫn với nhà đầu tư Trung Quốc muốn mua bất động sản."

Còn Cheng cho biết, cô có nhiều bạn bè Mỹ đến Hong Kong tìm kiếm cơ hội. "Vào lúc này, kinh tế Mỹ khá tồi tệ so với Hong Kong. Tôi cũng đang chờ đợi và tôi nghĩ trong hai năm tới, kinh tế sẽ bùng nổ trở lại.". Tuy nhiên, Cheng vẫn tin vào triển vọng tương lai của cô sẽ khá khẩm hơn khi ở Mỹ hơn là ở Hong Kong.

Theo VeF (Bảo Linh/CNN)

Thursday, July 12, 2012

Những xu hướng "hot" trên thị trường quảng cáo trực tuyến hiện nay

[Marketing3k - Nghiên cứu] Sự phát triển chóng mặt của internet, sự đổi mới không ngừng của nền tảng công nghệ đã góp phần tạo nên một thị trường quảng cáo trực tuyến ngày càng “khởi sắc” với nhiều xu hướng quảng cáo tiếp thị mới. 

1. Quảng cáo tiếp thị trên di động – mảnh đất màu mỡ

Quảng cáo trên di động là mảnh đất vô cùng màu mỡ và rất “hot” trong thời gian gần đây. Nguyên nhân trực tiếp tạo ra xu hướng này xuất phát từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường smartphone và hàng loạt các phiên bản website dành cho điện thoại di động ra đời.

Theo báo cáo mới nhất từ IAB, doanh thu toàn cầu của hình thức quảng cáo này đạt ngưỡng $5,3 tỷ trong năm 2011 và có thể tăng trưởng tới $11,6 tỷ vào năm nay. Nổi bật trong xu hướng này là hình thức quảng cáo tìm kiếm và quảng cáo hiển thị (banner, video, rich media). Còn tại Việt Nam, tính đến cuối tháng 12/2011, Việt Nam đã có hơn 16 triệu thuê bao di động 3G, tăng hơn 3,2 triệu so với thống kê vào tháng 01/2012 (theo Bộ TT&TT). Dự đoán, trong tương lai gần, con số này sẽ lên tới 30 triệu.

Trên đây chỉ là một trong những dấu hiệu tích cực cho thấy: sự phát triển của xu hướng quảng cáo trên di động là tất yếu.

2. Xu hướng quảng cáo tương tác trên mạng xã hội (MXH)

Nếu như trước đây, nhiều nhà tiếp thị cho rằng, MXH không phù hợp với các thương hiệu lớn do MXH thường hướng tới đa số khách hàng phổ thông, còn các sản phẩm danh tiếng lại chỉ dành cho thiểu số. Thì ngày nay, một kết quả khảo sát chỉ ra rằng: nhiều thương hiệu sang trọng cũng rất tích cực đầu tư cho các hoạt động tiếp thị trên MXH. Ví dụ như Mercedes, Buberry cũng bắt đầu xâm nhập vào các MXH: Facebook, Twitter, YouTube để tung ra chương trình tiếp thị số đông và tăng cường tương tác với người dùng.

Theo một cuộc khảo sát từ Alterian, nhiều công ty đang sử dụng MXH để thu hút khách hàng mới và nâng cao nhận thức về thương hiệu. Khảo sát này thăm dò ý kiến 400 giám đốc marketing cấp cao từ các thương hiệu lớn và thu được kết quả: 30,1% cho rằng thu hút khách hàng là mục tiêu quan trọng nhất trong tiếp thị qua MXH và 26,5% để tăng cường nhận thức về thương hiệu. Có đến 90% ý kiến tán thành việc phối hợp truyền thông xã hội trong chiến lược tiếp thị là rất quan trọng đối với các thương hiệu lớn trong giai đoạn hiện nay.

Xem xét trên thị trường Việt Nam, tuy xu hướng này đã có được bước khởi đầu thuận lợi song chưa tạo nên đột phá. Chỉ có khoảng 1% các doanh nghiệp chú trọng đến MXH như Cocacola Việt Nam, Converse Việt Nam, Megastar,.... Ngoài ra, đầu tư đang ở mức dè dặt, ngắt quãng tùy thời điểm/chiến dịch.

3. Quảng cáo video trực tuyến liệu có thể soán ngôi truyền hình?

Nhiều chuyên gia dự đoán, việc video quảng cáo trực tuyến soán ngôi quảng cáo trên truyền hình chỉ còn là vấn đề thời gian. Các chuyên gia quảng cáo tại Mỹ cho biết: quảng cáo video trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến với thế mạnh trong việc định hướng người xem. Cụ thể, khoảng 2/3 (64 %) chuyên gia cho biết họ đang chuyển ngân sách quảng cáo từ truyền hình sang quảng cáo video trực tuyến; cứ 10 chuyên gia thì lại có 6 người khẳng định video trực tuyến có hiệu quả ngang ngửa hoặc hơn quảng cáo truyền hình (theo kết quả khảo sát của BrightRoll).

Bên cạnh đó là hàng loạt các ưu thế vượt trội của quảng cáo video trực tuyến như: độ phủ, hình thức đa dạng – liên tục đổi mới, nội dung phong phú, tiết kiệm chi phí, khả năng sử dụng lại sản phẩm sáng tạo… Cũng trong khảo sát của BrightRoll, độ phủ được đánh giá cao với (23%) ý kiến tán thành, kế đến là dạng thức của đơn vị quảng cáo (11%), tiết kiệm chi phí hơn so với quảng cáo truyền hình (10%) và khả năng sử dụng lại sản phẩm sáng tạo (10%).

Hiện nay, TVC online là cách gọi quen thuộc của quảng cáo video trực tuyến tại Việt Nam. Hình thức quảng cáo này tuy mới xuất hiện nhưng được đánh giá là đầy tiềm năng, thu hút rất nhiều công ty quảng cáo đầu tư khai thác.

4. Xu hướng đa dạng hóa hình thức quảng cáo hiển thị thương hiệu

Chỉ trong vài năm gần đây, từ một thị trường quảng cáo trực tuyến còn non trẻ, tẻ nhạt với một vài hình thức quảng cáo banner thông thường, quảng cáo trực tuyến Việt Nam đang ngày càng phong phú, đa dạng, với nhiều chọn lựa mới như: CPM, CPC …Trong đó, nếu xét theo tiêu chí quảng bá thương hiệu thì các hình thức quảng cáo CPM được đánh giá là lựa chọn tối ưu để thay thế hình thức quảng banner CPD truyền thống.


Thực tế, hiện nay, trên thế giới, hình thức quảng cáo CPM đã thay thế vị trí thống lĩnh của hình thức quảng cáo hiển thị thương hiệu CPD, bởi những ưu điểm vượt trội: tối ưu hóa ngân sách, vận hành và phủ rộng trên một mạng lưới website đa dạng, tiếp cận đúng khách hàng mục tiêu theo website/vùng miền…

Mặc dù chưa thực sự chiếm lĩnh thị trường Việt Nam nhưng quảng cáo CPM hiện rất được các thương hiệu lớn nắm bắt và khéo léo vận dụng tùy theo chiến lược quảng cáo thương hiệu. Đặc biệt, đối diện với những biến động kinh tế tài chính, cùng ưu điểm về tối ưu hóa ngân sách quảng cáo, CPM sẽ nhanh chóng chiếm được cảm tình của phần đông các doanh nghiệp Việt Nam còn lại.

Theo TTVN

Thursday, July 5, 2012

Nghiên cứu thị trường: "Con ghẻ ngoài chợ"

[Marketing3k - NCTT] Dù có đến 9.000 chợ và 80% lưu lượng hàng hóa qua kênh phân phối này nhưng các doanh nghiệp (DN) lại ít chịu bỏ tiền để nghiên cứu xem tiểu thương, người tiêu dùng quan tâm gì khi đi chợ...

Theo báo cáo của ESOMAR (Hiệp hội Các công ty nghiên cứu thị trường (NCTT) chuyên nghiệp thế giới), năm 2010, mức chi cho công tác NCTT trên đầu người của Việt Nam là 0,34USD.

Đây là mức chi rất thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan là 1,7USD, Malaysia là 2,4USD; hay châu Á, như Đài Loan là 3,37USD, Trung Quốc là 0,69USD... Điều này cho thấy, phần lớn các DN Việt chưa thực sự chú trọng đầu tư cho công tác NCTT.

Theo giới làm marketing và quảng bá thương hiệu, hoạt động NCTT là một trong những khâu rất quan trọng quyết định sự thành, bại của một sản phẩm mới hay một chiến lược quảng cáo, truyền thông.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch Masso Group, DN trong nước vẫn chưa chú ý đến hoạt động NCTT.

Quản lý của một công ty NCTT cho biết, mức chi dành cho NCTT của các công ty lớn của Việt Nam chỉ chiếm 3-4% ngân sách dành cho marketing. Các tên tuổi khách hàng lớn từ Việt Nam vẫn chủ yếu là Vinamilk, Masan, Kinh Đô, Tân Hiệp Phát...

Nhưng tính ra, chi phí NCTT của các DN này vẫn chỉ chiếm một phần rất nhỏ của doanh thu, ước chừng khoảng 1 triệu USD mỗi năm, trong khi đó, con số trung bình đối với các công ty quốc tế phải đạt mức chi 4-5% doanh thu.

NCTT chung đã vậy, NCTT tại kênh phân phối chợ truyền thống càng tệ hơn. Theo điều tra của Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam, nước ta có gần 9.000 chợ truyền thống trên khắp cả nước và 80% lưu lượng hàng hóa luân chuyển qua kênh phân phối này.

Tuy chưa có thống kê cụ thể về công tác NCTT chợ truyền thống nhưng theo nhiều chuyên gia, hiện nay, chợ truyền thống vẫn chưa được DN quan tâm.

Ông Trần Ngọc Dũng, Giám đốc Điều hành Công ty NCTT Định Hướng (FTA), cho rằng, điều này cũng dễ hiểu vì mua sắm ở siêu thị đã trở thành thói quen của người dân ở các thành phố lớn, còn tại những vùng ngoại thành và nông thôn, chợ và tiệm tạp hóa là kênh mua sắm chính.

Cũng theo ông Dũng, mặc dù việc mua sắm ở chợ vẫn diễn ra tại các thành phố lớn, nhưng hàng mua ở chợ chủ yếu là thực phẩm tươi sống (82%), còn tại các siêu thị (bao gồm siêu thị điện máy, xe máy, máy tính...), đồ dùng thiết yếu chiếm 52%, quần áo, mỹ phẩm 36%, sản phẩm lâu bền 63%, sản phẩm công nghệ 81%.

Ngay cả ở khu vực nông thôn, khi không có siêu thị, người tiêu dùng cũng có xu hướng tin tưởng hàng bán trong các cửa hàng tạp hóa lớn có bảng hiệu đàng hoàng hơn là hàng ở chợ. Vì vậy, việc phân phối hàng hóa xuống các kênh bán hàng không phải khu vực nào cũng giống nhau. 

Các nghiên cứu của FTA đã chỉ ra rằng, tại các thành phố lớn, đa số người tiêu dùng đánh giá hàng bán trong siêu thị là hàng đạt chất lượng, phong phú, đa dạng, an toàn hơn ở chợ; các chương trình khuyến mãi được tổ chức thường xuyên đã tạo ra sức hút lớn đối với người tiêu dùng. 

Không chỉ vậy, các siêu thị có quy trình bán hàng nghiêm ngặt, hàng hết hạn sử dụng không được bày bán, thường xuyên bổ sung những mặt hàng mới nhất của nhiều thương hiệu để người tiêu dùng lựa chọn.

Trong khi đó, hàng trong chợ, theo nhiều người tiêu dùng, có thể là “hàng nhái”, hàng hết hạn sử dụng, hàng cũ, mặt hàng không phong phú... Để tăng sức mua cũng như khẳng định thương hiệu chất lượng nên ngay từ khi tìm kênh phân phối, nhà sản xuất đã chú trọng việc phủ sóng và tìm hiểu kênh siêu thị, tiệm tạp hóa hơn là chợ.

Chuyên gia thị trường Hồ Minh Chính, người đã theo đuổi kênh bán hàng truyền thống nhiều năm nay, cũng công nhận, lâu nay, các DN bán hàng dựa vào hệ thống phân phối địa phương nhưng không chú ý đến chợ.

Do đánh giá thấp kênh chợ truyền thống nên việc đầu tư NCTT ở chợ cũng chưa được các DN quan tâm. Đó là một sai lầm của DN vì hiện nay, kênh bán hàng này chiếm đến gần 80% doanh thu của ngành bán lẻ.

Theo ông Nguyễn Trung Thẳng, trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, NCTT lại càng cần phải được ưu tiên hơn nữa trong hoạt động marketing, kinh doanh.

Thứ nhất, các quyết định kinh doanh phải cẩn trọng hơn để giảm thiểu rủi ro, và điều này tùy thuộc vào thông tin thị trường đáng tin cậy.

Thứ hai là hành vi người tiêu dùng, kênh phân phối, mức độ cạnh tranh cũng thay đổi nhanh hơn trước bối cảnh kinh tế khó khăn và thông tin thị trường cần phải luôn được cập nhật để giúp điều chỉnh các quyết định, chiến lược kinh doanh.

Ngoài ra, cũng theo ông Dũng, trong thời kỳ khó khăn, để đảm bảo doanh số bán hàng và độ phủ sóng của thương hiệu, việc tận dụng tối đa các kênh bán hàng, thậm chí liên tục mở thêm điểm bán hàng mới nhằm tìm thêm đầu ra cho sản phẩm là hoàn toàn hợp lý.

Nhưng mỗi kênh bán hàng sẽ có lợi thế và khó khăn riêng, vì vậy, vấn đề không phải là tập trung nghiên cứu kênh bán hàng truyền thống hay hiện đại, mà DN cần xác định được sản phẩm của mình phù hợp với kênh phân phối nào và kênh phân phối đó có phù hợp với khu vực vùng miền không.

Theo DNSG (Thanh Ngân)
-------------------------
40 triệu USD

Theo thống kê của Hiệp hội NCTT Thế giới, hoạt động NCTT ở Việt Nam tuy có tăng trưởng tốt trong những năm gần đây, nhưng nhìn chung chỉ mới ở giai đoạn sơ khai: năm 2010 đạt khoảng 33 triệu USD, năm 2011 trên dưới 40 triệu USD. Mức chi này khá thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (gần 100 triệu USD/năm, Philippines (trên 80 triệu USD/năm)...
-------------------------