Showing posts with label Trải nghiệm Marketing. Show all posts
Showing posts with label Trải nghiệm Marketing. Show all posts

Thursday, April 18, 2013

Bill Gates: Bất hữu và tiểu sử

[Thư viện marketing] Trước khi về hưu Bill Gates - ông chủ của tập đoàn máy tính lớn nhất thế giới Microsoft - đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp.

Chúng tôi xin giới thiệu và mời các bạn tham khảo những lời khuyên bổ ích của người đàn ông giàu nhất thế giới này, có thể một ngày nào đó bạn cũng sẽ trở thành một Bill Gates thứ hai?

10 câu nói bất hữu

1. Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó.
(Sở dĩ như vậy là một mình bạn sẽ không thể nào làm thay đổi được sự bất công trong xã hội)

2. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên.
(Lòng tự trọng quá cao sẽ tỷ lệ thuận với sự bất lợi trong công việc của bạn)

3. Thường thì bạn sẽ không thể trở thành CEO nếu chỉ mới tốt nghiệp trung học. Nhưng khi bạn đã trở thành một CEO thì không còn ai để ý là bạn mới chỉ có tốt nghiệp trung học nữa.
(Lúc này người ta sẽ đánh giá và quan tâm nhiều đến năng lực hơn là bằng cấp của bạn)

4. Khi bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong công việc thì đừng có oán trách số phận. Điều bạn học được khi gặp trắc trở chính là kinh nghiệm và bài học để lần sau không bao giờ mắc phải nữa.
(Điều cần làm lúc này là trấn tĩnh và bắt tay làm lại từ đầu)

5. Nên hiểu một điều rằng: Trước khi có bạn, bố mẹ bạn không phải là những người “chán ngắt, vô vị” như bạn của ngày hôm nay đã nghĩ. Đây chính là cái giá rất lớn mà bố mẹ đã phải trả cho sự trưởng thành của bạn.
(Bạn phải có nghĩa vụ đền đáp công ơn với những người đã dành cả cuộc đời mình cho sự sống và trưởng thành của bạn)

6. Khi đi học, bạn đứng thứ mấy trong lớp cũng không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi đã bước chân ra xã hội thì mọi việc lại không đơn giản như vậy. Dù đi đâu hay làm công việc gì bạn cũng nên tạo đẳng cấp cho mình.
(Luôn tự nhủ rằng bạn sẽ luôn là người đứng đầu, như vậy bạn sẽ có động lực và tinh thần nhiều hơn cho sự nghiệp của bản thân)

7. Khi đi học, bạn luôn mong chờ đến ngày nghỉ lễ, Tết. Khi đi làm thì hoàn toàn không giống vậy, dường như là bạn sẽ không được nghỉ ngơi. Công việc sẽ cuốn bạn đi bất cứ lúc nào kể cả ngày nghỉ.
(Nếu là một nhân viên luôn mong chờ ngày nghỉ lễ thì bạn sẽ bị lạc hậu hơn so với những nhân viên khác. Sự lạc hậu này còn luôn đồng hành với sự đào thải và thất nghiệp).

8. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên thì bạn đừng nên đi làm sau khi tốt nghiệp. Đơn giản nếu như không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty thì chắc chắn bạn sẽ không làm được gì và sẽ nhanh chóng thất nghiệp, hơn nữa lúc này sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.
(Nên nhận thức được rằng: Công ty sẽ luôn yêu cầu cao hơn rất nhiều so với trường học. Vì ở trường học, dù bạn có học được hay không thì chỉ ảnh hưởng đến cá nhân bạn. Còn ở công ty bạn có làm được việc hay không thì lại ảnh hưởng đến rất nhiều người)

9. Mọi người đều thích xem phim truyền hình, nhưng bạn không nên xem nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn. Vì công việc ở công ty mới phản ánh cuộc sống thực của bạn.
(Bạn không nên xem nhiều vì tư tưởng của bạn sẽ bị ảnh hưởng bởi những bộ phim truyền hình đó. Cuộc sống của bạn nên do bạn quyết định)

10. Không bao giờ phê bình người khác sau lưng của họ, đặc biệt đừng bao giờ phê phán sếp là người không có năng lực, điều này là không đúng.
(Nếu bạn có thắc mắc gì trong công việc thì nên nói ý kiến của mình trước mặt mọi người. Còn nếu như bạn luôn giữ thái độ và hành động phản kháng sau lưng người khác thì chỉ có bất lợi cho bạn mà thôi).

Tiểu Sử

William (Bill) H. Gates là Chủ tịch, kiêm Kiến trúc sư trưởng Phần mềm của tập đoàn phần mềm hàng đầu thế giới, Microsoft. Dịch vụ và giải pháp của Microsoft giúp các cá nhân và doanh nghiệp khám phá hết khả năng tiềm tàng của họ. Doanh thu của Microsoft trong năm 2005, tính đến tháng 7, đạt 39.79 tỷ Đô la Mỹ với tổng nhân sự đạt con số trên 61,000 người trên 102 nước và lãnh thổ.

Bill Gates sinh ngày 28 tháng 10 năm 1955 và lớn lên ở Seattle cùng hai chị gái. Cha của ông, William H. Gates II, là một luật sư ở Seattle. Mẹ ông, Mary Gates, giáo sư, đồng thời là thành viên hội đồng quản trị của trường Đại Học Washington và là chủ tịch của United Way International.

Gates học tiểu học ở trường công lập và tư thục Lakeside School. Cũng chính từ đây, ông bắt đầu yêu thích phần mềm và bắt đầu lập trình từ năm 13 tuổi.

Năm 1973, Gates bắt đầu vào học trường Harvard và sống gần Steve Ballmer, nay là Giám Đốc Điều Hành của Microsoft. Trong thời gian học ở Harvard, Bill Gates đã phát triển một phiên bản của ngôn ngữ lập trình BASIC trên chiếc máy vi tính đầu tiên – MITS Altair

Gates rời Havard và dồn hết tâm sức vào Microsoft, công ty được ông thành lập vào năm 1975 cùng một người bạn từ thời niên thiếu, Paul Allen. Nhận thức được vai trò quan trọng của máy tính đối với cá nhân cũng như hộ gia đình, Gates cùng Allen bắt đầu viết phần mềm máy tính. Chính tầm nhìn xa của Gates là nhân tố mang đến sự thành công của Microsoft và nền công nghiệp phần mềm.

Dưới sự lãnh đạo của Gates, Microsoft liên tục phát triển công nghệ phần mềm, biến máy tính trở thành một công cụ dễ sử dụng và chi phí thấp đối với nhiều người. Microsoft cam kết sẽ tiếp tục gắn bó và phát triển lâu dài với nền công nghiệp phần mềm. Năm 2005, Microsoft đã đầu tư 6.2 tỷ Đô la Mỹ vào nghiên cứu và phát triển phần mềm.

Năm 1999, Bill Gates viết cuốn sách Business @ the Speed of Thought. Cuốn sách nói lên sức mạnh của công nghệ máy tính trong giải quyết các vấn đề cốt lõi trong kinh doanh. Cuốn sách được xuất bản trên 25 ngôn ngữ ở hơn 60 nước. Business @ the Speed of Thought đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình và tích cực từ các nhà phê bình, trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất do tạp chí New York Times, USA Today, Wall Street Journal và Amazon.com, bình bầu. Cuốn sách được xuất bản trước đó của Bill Gates vào năm 1995, The Road Ahead, cũng giữ vị trí số một trong danh sách những cuốn sách bán chạy nhất do tạp chí New York Times bình bầu trong vòng 7 tuần liền.

Gates đã tặng toàn bộ doanh số thu được từ việc xuất bản 2 cuốn sách trên cho một tổ chức phi lợi nhuận, giúp đưa công nghệ vào giáo dục và phát triển các kỹ năng ở con người.

Bên cạnh niềm đam mê dành cho máy tính và phần mềm, Gates đã khám phá ra Corbis, một trong những nguồn thông tin bằng thị giác lớn nhất thế giới - được kết hợp hết sức cầu kỳ giữa các bộ sưu tập nghệ thuật và nhiếp ảnh trên khắp thế giới. Ông còn là thành viên hội đồng quản trị của công ty Berkshire Hathaway, một công ty chuyên đầu tư vào các công ty có sản phẩm được đa dạng hóa.

Gates cũng rất coi trọng các hoạt động từ thiện. Gates và vợ ông là Melinda đóng góp quỹ trị giá 28.8 tỷ Đô la Mỹ (tính đến tháng 1 năm 2005) giúp chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng giáo dục toàn cầu, với hy vọng rằng nhân loại sẽ được hưởng những lợi ích này ở thế kỷ 21. Quỹ Bill và Melinda Gates đã đóng góp hơn 3.6 tỷ Đô la Mỹ cho các tổ chức chăm sóc sức khỏe toàn cầu; đóng góp hơn 2 tỷ Đô la Mỹ vào giáo dục, trong đó, chương trình Thư Viện Gates cung cấp máy tính, kết nối Internet và hướng dẫn sử dụng ở các thư viện công cộng ở các cộng đồng có thu nhập thấp ở Mỹ và Canada; đóng góp 488 triệu Đô la Mỹ cho các dự án đặc biệt và các chiến dịch trợ giúp hàng năm.

Gates kết hôn với Melinda French Gates vào ngày 1 tháng 1 năm 1994. Ông có 3 người con. Ông đam mê đọc sách, thích chơi golf và bài brit.

* Tập đoàn Microsoft

Microsoft là Tập đoàn sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới. Khởi đầu (năm 1975), Microsoft được thành lập bởi sự cộng tác của hai người bạn là Bill Gates và Paul Allen với mục tiêu là hướng Tập đoàn tới thống trị nền công nghiệp phần mềm.

Trong suốt hơn 20 năm qua, Tập đoàn Microsoft đã tăng trưởng không ngừng với một tốc độ đáng kinh ngạc, luôn nhận được sự chú ý cũng như sự ngưỡng mộ của công chúng. Nhiều thanh niên Mỹ tìm cách bắt chước con đường Bill Gates đã đi, kể cả việc bỏ học giữa chừng!

Ảnh minh họa

Toà biệt thự trị giá 97 triệu USD của Bill Gates.
Microsoft chỉ tuyển những người có năng lực thực sự, có niềm say mê, sáng tạo trong công việc. Rất nhiều người trong số những người được tuyển vào làm việc tại Microsoft đều tốt nghiệp từ các trường đại học và cao đẳng tốt nhất, nổi tiếng nhất, một số khác thì được đào tạo theo chuyên ngành máy tính tốc độ cao.

Năm 1979, với tổng số 25 nhân công, một vài sản phẩm ngôn ngữ máy tính mới và doanh thu hàng năm đạt khoảng 2,5 triệu USD, Microsoft đã xin được giấy phép sử dụng hệ điều hành UNIX và phát triển hệ XENIX – Hệ điều hành cho máy tính thu nhỏ. Lúc này, Microsoft đã thực sự phát triển rất mạnh.

Năm 1980, Microsoft phát triển chương trình DOS cho máy tính cá nhân IBM đầu tiên. Đây là bước đột phá cho sự thành công của Microsoft trong thế giới công nghệ thông tin. Hệ điều hành của Microsoft sớm trở thành tiêu chuẩn của nền công nghiệp này. Thị phần của Microsoft liên tục được mở rộng.

Năm 1981 lại là một bước đột phá khác cho Microsoft. Microsoft được tái tổ chức lại như một tập đoàn cổ phần. Mỗi nhân công có quyền mua cổ phần của Microsoft. Đây cũng được coi là một năm đầy may mắn khi Microsoft đã gặt hái được nhiều thành công, khi máy tính cá nhân IBM đã được công bố và phát hành phần mềm đầu tiên về MS-DOS.

Năm 1986, Microsoft đã phát triển đội ngũ nhân viên lên tới 1.200 người và doanh thu đạt tới 197 triệu USD, trở thành Tập đoàn thương mại lớn và Bill Gates trở thành nhà tỷ phú trẻ tuổi nhất trên thế giới. Nhân công sẵn sàng mua cổ phiếu của Microsoft, ngay cả khi họ chưa biết mua chúng sẽ mang lại lợi nhuận hay không. Chỉ trong vòng chưa đầy 5 năm, rất nhiều người trong số họ đã trở nên giầu có. Vì vậy, đội ngũ nhân viên rất trung thành với Microsoft. 

Ảnh minh họa

Bill Gates được Nữ hoàng Anh phong tước Hiệp sỹ
Năm 1988, tên tuổi của Microsoft đã được cả thế giới biết đến. Đây là Tập đoàn phần mềm đầu tiên trên thế giới đạt được doanh thu hàng năm hàng trăm triệu USD, Bill Gates đã trở thành người giầu nhất nước Mỹ.

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tổng doanh thu của Microsoft đã đạt trên 500 triệu USD/năm. Microsoft đã vượt qua các đại gia: General Electric, IBM…(là những công ty cũng có thị trường đã nhận được cổ phiếu xanh từ rất lâu trước Microsoft) để trở thành Tập đoàn lớn nhất về công nghệ cao trên thế giới, đến mức mà trên thực tế, Hệ thống Tư pháp của Mỹ bắt buộc phải nhảy vào điều tra về các phi vụ cạnh tranh và độc quyền.

Từ lúc Microsoft chỉ là một Công ty ngôn ngữ máy tính, 10 năm sau, Microsoft đã tung ra các hệ điều hành, một số phiên bản của Word và Window 2.0, tham gia vào các dự án cùng IBM để phát triển hệ điều hành cho máy PC, thiết kế phiên bản cho máy PC của Excel, tạo ra các nhãn CD-ROM, bán được tới hàng ngàn con chuột và những người làm việc ở đây trở nên giầu có nhờ các cổ phiếu.

Sưu tầm & tổng hợp: Thư viện Marketing

Friday, February 15, 2013

Cuộc chiến Trung Nguyên - Starbucks và chuyện thương hiệu Việt Nam

[Thương Hiệu] Starbucks vào Việt Nam. Sẽ có nhiều bạn trẻ sẵn sàng trả gấp nhiều lần số tiền 20.000 đồng (giá một ly cà phê Trung Nguyên) cho một cốc Starbucks Espresso kiểu Ý...

Ở góc nhìn quản trị thương hiệu, tên thương hiệu đã trở thành yếu tố quyết định hành vi khách hàng thay vì chất lượng sản phẩm

Vào một sáng mùa đông lạnh lẽo tại một nhà ga tàu điện ngầm ở thủ đô Washington DC, một nghệ sỹ vỹ cầm nhẫn nại kéo đàn với một chiếc mũ để trước mặt. Người qua lại rất đông. Sau 45 phút, chỉ có vài người dừng lại chốc lát xem vì tò mò, rồi đi ngay. Tổng cộng ông nhận được 32 uSD. Rồi nghệ sỹ lặng lẽ thu xếp đồ đạc, rảo bước vào cổng nhà hát Boston cách đó không xa. Tại đây, mỗi khán giả phải trả 100 uSD để được xem ông biểu diễn. Ông chính là nghệ sỹ violin danh tiếng thế giới Joshua Bell. Với một buổi biểu diễn như vậy, ông được trả hàng chục ngàn đôla.

Thực ra đây là một cuộc thử nghiệm do tờ Washington Post thực hiện để đánh giá cảm nhận của con người về thế giới quanh họ. Kết quả nói lên rằng: giá trị nhiều khi được quyết định không phải bởi giá trị sử dụng. Rất có thể trong số những người đã rảo bước qua “nghệ sỹ hát rong” Joshua Bell tại ga tàu điện ngầm, sau đó lại mua vé rất đắt để xem buổi biểu diễn của “nghệ sỹ danh tiếng” Joshua Bell tại nhà hát Boston. Sự khác nhau ở đây không còn ở chất lượng âm nhạc mà là tên tuổi của người biễu diễn. Ở góc nhìn quản trị thương hiệu, tên thương hiệu đã trở thành yếu tố quyết định đến hành vi khách hàng thay vì chất lượng sản phẩm.

Mua sản phẩm hay thương hiệu?

Starbucks vào Việt Nam. Sẽ có nhiều bạn trẻ sẵn sàng trả gấp nhiều lần số tiền 20.000 đồng (giá một ly cà phê Trung Nguyên) cho một cốc Starbucks Espresso kiểu Ý. Chẳng phải do chất lượng cà phê đặc biệt hơn. Cái khác là thương hiệu Starbucks.

Tương tự, giá một chai bia Heineken 250ml là 15.000 đồng. Cao gấp đôi so với một chai bia Hà Nội cùng dung tích. Khi đi tiếp khách hay đi cùng bạn bè, nhiều người chúng ta sẽ chọn thứ đắt hơn. Không hẳn do loại bia này ngon hơn. Khác biệt là thương hiệu Heineken! Và như thế, người tiêu dùng không hẳn là mua sản phẩm nữa rồi. Họ mua thương hiệu. Các bạn trẻ không mua cà phê. Họ mua sự sành điệu mang tên Starbucks. Người uống bia không mua bia. Họ mua sự tự tin mang tên Heineken!

Những ngày cuối năm 2012, thị trường chuỗi bán lẻ Việt Nam chứng kiến sự có mặt rầm rộ của 3 trong số 4 tên tuổi lớn nhất thế giới: KFC; Burger King và Starbucks. Ở chiều ngược lại, một số thương hiệu Việt có tên tuổi lặng lẽ “bán mình” cho đối tác nước ngoài: Phở 24, bia Huế, Diana hay thương hiệu vật liệu nội thất Prime. Vậy đối với thương hiệu Việt, liệu có bao nhiêu cơ hội để chúng ta từ bỏ thân phận của kẻ “hát rong đường phố” để bước lên sân khấu dành cho “nghệ sỹ nhà hát”?

Đừng quên marketing

Marketing là tiền bạc. Điều này đã chứng minh qua thực tế khá thuyết phục: các thương hiệu thành công đều chi bộn cho hoạt động marketing. Theo Kantar Media, Top 5 thương hiệu chi nhiều tiền nhất cho quảng cáo năm 2011 lần lượt là unilever, P&G, Tân Hiệp Phát, Masan và Vinamilk. Tại sao nhãn hiệu đình đám 2012 mì Gấu Đỏ thành công? Một trong những lý do quan trọng là Asia Food đã ưu ái dành cho chiến dịch marketing của nhãn hiệu này tới gần 150 tỉ đồng.

Nhưng nếu lý luận một cách giản đơn kiểu “có nhiều tiền là xây dựng thương hiệu thành công” thì rõ là oan ức cho những Tân Hiệp Phát, Vinamilk, Masan hay Gấu đỏ. Ngoài sự hậu thuẫn về ngân sách, thành công của các thương hiệu nội địa này còn là nhờ vận dụng đúng đắn các kiến thức và quy luật marketing.

Các sản phẩm của Masan (nước tương Tam Thái Tử, nước mắm Nam Ngư, mì gói Omachi hay Tiến Vua) đều thành công nhờ một vũ khí duy nhất mà các thương hiệu nước ngoài thường áp dụng: đánh vào nỗi sợ hãi của người tiêu dùng. Con đường đi của Tân Hiệp Phát (Trà Dr. Thanh, Trà xanh không độ hay nước uống tăng lực Number 1) là bản sao của những gì mà các đại gia như CocaCola hay Pepsi đã làm: đổ tiền cho quảng cáo “dội bom” và xây dựng hệ thống phân phối rộng khắp. Trên thị trường Việt Nam, cả Tân Hiệp Phát và Masan hiện đã trở thành đối thủ

Marketing còn là sự sáng tạo

Nhà phân tích chiến lược danh tiếng Peter Drucker cho rằng, “doanh nghiệp có hai chức năng và chỉ có hai mà thôi: marketing và sáng tạo. Marketing và sáng tạo - tạo ra kết quả. Những thứ khác còn lại chỉ là chi phí”.

Đối với các thương hiệu Việt, sẽ rất dễ thành công nếu biết khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong các thông điệp truyền thông. Một trong những ví dụ điển hình về sự sáng tạo trong khơi gợi truyền thống hào hùng của dân tộc Việt là thương hiệu Bitis với slogan “Nâng niu bàn chân Việt”. Quảng cáo này đã có từ rất lâu. Cho đến nay nhiều người vẫn rất nhớ và thích thú với từng chi tiết của quảng cáo này, từ bàn chân của Lạc Long Quân xuống biển; bàn chân của các nghĩa sỹ Quang Trung; bàn chân của các chiến sĩ bộ đội cụ Hồ và bàn chân của những đứa trẻ ngày nay đang đi dép Bitis.

Cho đến nay, có thể coi đây là chiến dịch marketing hiếm hoi của một thương hiệu Việt có thể sánh ngang với các thương hiệu ngoại “đỉnh” nhất. Và điều đáng lưu ý là Bitis đã không phải chi tiền khủng cho chiến dịch này. Sự sáng tạo là vô giá vậy đấy. Giá trị mà nó mang lại là kết nối bền vững về mặt cảm xúc và rất khó phai nhạt. Tiếc rằng, có quá ít thương hiệu Việt làm được điều này. Cà phê Trung Nguyên với ông chủ Đặng Lê Nguyên Vũ cũng rất hăng hái cổ xúy cho tinh thần dân tộc “người Việt yêu hàng Việt”. Tôi đồng tình khi ông Đặng Lê Nguyên Vũ cho rằng, nếu muốn thắng Starbucks, Trung Nguyên phải tạo ra được triết lý và câu chuyện thương hiệu hay hơn. Thậm chí ông đã nói rất đúng và trúng về cách tiếp cận thị trường Mỹ: người Mỹ không cần một sản phẩm khác, họ cần một câu chuyện khác.

Tuy nhiên, “câu chuyện khác” của Trung Nguyên có vẻ vẫn còn mờ nhạt. Tình yêu là cái gì đó đến rất tự nhiên. Trung Nguyên hãy kể câu chuyện của họ thật hay, thật cảm xúc.

Không cần tìm kiếm đâu xa: Starbucks đã làm rất tốt việc này (những ai không tin, hãy đọc cuốn “Dốc hết trái tim” của người sáng lập Howard Schultz) và Bitis cũng làm rất tuyệt.

Có như vậy, mới chiếm được lòng tin và tình yêu từ khách hàng. Có như vậy, những thương hiệu Việt mới vừa có “danh” vừa có “giá”!
Theo Doanh Nhân

Tin liên quan:

Chiến Lược Thương Hiệu: Dẫn Đầu bằng cách Đi Sau

[Thương hiệu] Người dẫn đầu có thật sự sở hữu nhiều lợi thế không? Có rất nghiên cứu hàn lâm về vị thế dẫn đầu và những người làm marketing luôn tìm cách cạnh tranh thông qua cải tiến vốn giống như con dao hai lưỡi với cơ hội dẫn đầu của thương hiệu. Để chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu thường đòi hỏi thời gian và tâm sức, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công nghệ như ngày nay.

Công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt, nhưng những người theo sau (không phải đi đầu) công nghệ thường là người nhận thức được lợi thế thị trường từ kinh nghiệm của người đi trước. Google không phải là hệ thống tìm kiếm trực tuyến đầu tiên. Facebook không phải là mạng xã hội đầu tiên. Windows không phải là hệ điều hành đầu tiên. iPad không phải là máy tính bảng đầu tiên, và nó thậm chí cũng không phải chiếc máy tính bảng đầu tiên của Apple. Trong khi Apple dẫn đầu công nghệ điện thoại thông minh, thì Google Android và Samsung Galaxy lại thống trị thị trường.

Cuộc cách mạng công nghệ là một quy trình nhảy cóc, trong đó những người đi đầu thường bị “vượt mặt” bởi những kẻ theo sau đầy tốc độ. Đây chính là điều khiến Steve Jobs trở nên lỗi lạc. Ông có thể nhảy cóc không giống ai kể từ thời Thomas Edison. Khả năng kết hợp một cảm nhận tân tiến với những công nghệ hiện đại và biến chúng thành những sản phẩm nổi bật luôn là một huyền thoại.

Một phần lý do thành công của những người theo sau là bởi người đi đầu có xu hướng tập trung vào công nghệ trong khi người đi sau tập trung hơn vào mô hình kinh doanh. Những người đi sau có lợi thế nhìn thấy thị trường trước khi ra mắt sản phẩm còn những người đi đầu phải giới thiệu sản phẩm khi không thấy trước điều gì.

Với hầu hết những người làm marketing thương hiệu, vấn đề mà họ cần giải quyết là đem những công nghệ mới của riêng họ đến thị trường và ứng dụng công nghệ mới ở những lĩnh vực khác theo cách của riêng họ. Nhưng dù theo cách nào họ cũng đều phải đối mặt với thách thức liệu họ có là người đi đầu hay không. Điều này là một thách thức đặc biệt khó khăn trong thị trường số ngày nay nhưng lại không phải là điều mới mẻ với những người làm marketing thương hiệu.

Tôi làm việc tại Texize vào quãng nửa cuối những năm 80. Công việc của tôi là nghiên cứu cho những thương hiệu như Glass Plus, Fanstastik, Spray ‘n Wash, Pine Power, No-Pest Strip, K2R Spotlifter… Việc marketing thương hiệu của chúng tôi vào thời đó là tập trung vào những phân khúc thị trường hẹp, và trọng tâm của chúng tôi là những nơi có nhu cầu quá nhỏ so với những gã khổng lồ như Procter & Gamble nhưng đủ lớn cho những thương hiệu như chúng tôi. Chiến lược này nhận thấy P&G thường chờ đợi cải tiến được các đối thủ cạnh tranh giới thiệu ra thị trường. Nếu những sản phẩm mới này chứng minh sự thành công, P&G sẽ theo sau, và cộng thêm ngân sách marketing khổng lồ, họ hoàn toàn vượt xa những nhà cải cách bé nhỏ với nguồn lực hạn chế. Thật sự, điều này đã xảy ra với chúng tôi một hoặc hai lần.

Thông qua văn hoá và quy trình của mình, P&G hoạt động theo cơ chế: người thống trị không nhất thiết phải là người đi đầu. Các kỹ năng và phương marketing thương hiệu của họ bao gồm cả quan sát và mô phỏng, không hề kém phần quan trọng hơn khám phá và cải tiến. Điều này không có nghĩa là ta xem nhẹ cam kết dẫn đầu mạnh mẽ và lâu dài cuả P&G, P&G biết rằng tiên phong dẫn đầu một thứ gì đó mới mẻ thông qua khám phá và cải tiến là một trong những cách thống trị thị trường. Đôi khi, việc quan sát và mô phỏng lại là quyết định khôn ngoan hơn. Rất ít người làm thương hiệu có định hướng hay kỹ năng này.

Mô hình dẫn đầu bằng cách theo sau có những ngụ ý vĩ mô cho những người làm marketing. Mô hình nhảy cóc về cách mạng công nghệ này là một lý do tại sao các nền kinh tế đang phát triển sắp bắt kịp các nước đã phát triển, bao gồm cả Mỹ. Việc ứng dụng một công nghệ cụ thể đòi hỏi một kết cấu hỗ trợ và tận dụng nó. Nhưng chính kết cấu đó lại tạo ra chướng ngại vật tương lai. Chi phí của việc chuyển dịch từ một kết cấu hiện tại có thể ngoài sức tưởng tượng, do đó, nơi tận dụng được công nghệ lại là nơi không đầu tư vào công nghệ trước đó và kết cấu sẵn có ấy. Ngày nay, những nơi như vậy đều ở các quốc gia đang phát triển. Điều giải thích tại sao châu Phi đang dẫn đầu thế giới về thanh toán di động. Đó là lý do tại sao các nền kinh tế mới nổi BRIC sẽ là những nước hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng kỹ thuật số.

Những người làm marketing thương hiệu đang hướng về một tương lai với nhiều thay đổi to lớn. Nhưng một ngón tay gây ngứa thực sự là vấn đề. Khám phá và cải tiến là cần thiết, nhưng điều này phải được cân bằng với lòng kiên nhẫn quan sát và mô phỏng lại. Nhưng người làm thương hiệu cần cần cả tính quyết đoán lẫn sự dè chừng để đảm bảo cơ hội dẫn đầu của mình.

Theo Branddance/BrandingStrategyInsider

Xu hướng Marketing 2013 dưới góc nhìn của CMO

[Thư viện marketing] “Một nửa ngân sách dành cho quảng cáo bị phí phạm. Vấn đề là tôi không biết đó là nửa nào”, John Wanamaker – cha đẻ của quảng cáo hiện đại từng phát biểu năm 1902.

Theo 2012 State of Marketing Report của Chief Marketing Officer Council (hội đồng CMO), 27% nói rằng TV là kênh có ảnh hưởng mạnh nhất, 44% nói công cụ tìm kiếm là hiệu quả. Bản báo cáo cũng nói các nhà điều hành rất chú ý tới công cụ tìm kiếm và social media nhưng không hài lòng với kết quả chúng đem lại. Khoảng 50% nói rằng chiến lược online marketing sẽ là một thách thức lớn trong năm tới.

Họ còn nói những gì nữa? Liệu có đồng quan điểm với John Wanamaker không? Dưới đây là điều 15 CMO nói về digital marketing trong 2013:

1. Thuật toán đám mây, hệ thống dữ liệu và công cụ dashboard sẽ kết hợp lại để cung cấp cho marketer cái nhìn toàn diện hơn về các điểm tiếp xúc với khách hàng (consumer touch point). - Lisa Archambault, Manager, Display Marketing, Zappos Development, Inc.

2. Ngày càng nhiều công ty bắt tay vào việc tích hợp các nền tảng online để mang đến trải nghiệm toàn diện của người dùng. – Mike Ashton, Managing Director ABCG.

3. B2B sẽ thành xu hướng của năm 2013 bởi vì người bán cho doanh nghiệp nhận ra có một cơ hội lớn để phản ứng phù hợp với sự nhạy cảm của cầu tiêu dùng đồng thời sử dụng được một số chiến lược từ mảng B2C. - Sean Cook, CEO, Shop Visible.

4. Rất ít doanh nghiệp biết sử dụng sức mạnh của video. Video đem đến sự quay trở lại của khách hàng nhiều hơn, và tạo ra sự nhắc nhở nhiều hơn gấp 5 lần so với quảng cáo in (theo TubeMogul). – Stacey Coopes, CEO, Ford Direct.

5. Tôi nghĩ chúng ta sẽ thấy sự liên kết chặt hơn giữa sales và marketing điều này sẽ tạo ra sự tập trung tốt hơn vào trải niệm được cá nhân hóa cho cả inbound và outbound marketing.– Eduardo Conrado, Chief Marketing Officer, Motorola.

6. Nhờ có digital marketing, marketer sẽ có rất rất nhiều dữ liệu về hành vi trên mạng. Dữ liệu về conversion (chuyển đổi) sẽ được ghi lại chính xác, sử dụng tốt cho việc tính ROI – Gabe Delporta, CMO, Lending Tree.

7. Tôi mong đợi nỗ lực “tạo ra một sự đo lường có ý nghĩa” sẽ cho ra sản phẩm là một GRP (Gross Rating Point) cho các công cụ quảng cáo online.– Patrick Dolan, EVP and COO, IAB.

8. Xu hướng là ít tập trung về công nghệ hơn và nghiêng về nội dung hơn, phối hợp nhịp nhàng sự chuyển tải thông điệp và sự phối hợp trong chiến dịch Marketing – truyền thông. – Susan Helstab, VP-Marketing, Four Season.

9. CIO và CMO cần làm việc với nhau để tạo nên sự đổi mới, làm chủ chiến lược quản lý dữ liệu, social media, xây dựng hệ thống cho sự tương tác để có thể tiếp cận được khách hàng hiệu quả thông qua kênh và thiết bị mà họ chọn. CIO và CMO là hai nhà đồng thiết kế những trải nghiệm tuyệt vời cho khách hàng. – Jon Iwate, SVP, Marketing and Communication – IBM.

10. Sự phù hợp của thông điệp sẽ được cải thiện trên các kênh digital và social, và cả khả năng tạo sự tương tác… sẽ có phản hồi ngay lập tức dành cho bạn – Alfredo Martell, Senior VP, Marketing and Product Management, Caribou Coffee.

11. CMO đang lao đến Big Data. Khả năng phân tích dữ liệu và phân tích web sẽ trở thành xu hướng tuyển dụng cho các phòng marketing. “Đây là một chỉ thị từ trên, CEO nói với CMO: “sự ưu tiên của khách hàng là chìa khóa, vậy hãy đưa cho tôi những đo lường chuẩn xác, góc nhìn xác thực về chi tiêu marketing” – Liz Miller, VP of the CMO Council.

12. Trong năm tới, những CMO thành công sẽ biết cách tái kết hợp brand storytelling với xu hướng mới: marketing phân tích để cung cấp một kết nối tình cảm, tạo ấn tượng với khách hàng – những người đang ngày càng miễn dịch với các thủ thuật marketing phân tích, như chọn mục tiêu và đưa coupon. - Deborah Op den Kamp, Executive Director, CMO, and Digital Consumer Practices, Russell Reynolds Associates.

13. Khái niệm SoLoMo – social, local, mobile – sẽ trở thành công cụ không chỉ cho chính chúng tôi mà cả các nhà cung cấp, đối tác của chúng tôi. – Stephen Quinn, CMO, Walmart.

14. Doanh thu sẽ đến từ lượt xem. IAB báo cáo rằng có sự tăng trưởng 23%/năm trong chi tiêu online vào quý một. Chúng tôi đang trải qua xu hướng dài hạn là khách hàng muốn sống online chứ không chỉ giao dịch online – Josh Shatkin-Margolis, CEO, Magnet.

15. Chúng tôi không tin vào digital marketing. Chúng tôi tin vào marketing trong thế giới số, và có một sự khác biệt rất lớn. – Clive Sirkin, Senior Vice President, Kimberly-Clark.

Vậy những vấn đề mà các giám đốc marketing trên gặp phải có giống vấn đề ở công ty bạn không? Nhận xét của bạn về marketing năm 2013 ra sao?

Theo nhuongquyenvietnam.com

Khi Trung Nguyên đối đầu với Starbucks

[Thương hiệu] Tuy Trung Nguyên và Starbucks khác nhau, nhưng giống nhau ở một điểm: Trong lúc uống ly café cạn tới đáy để tìm triết lý hay ngắm người đẹp ngồi đối diện mà chẳng ai nhớ rằng, cái ví đang bị móc một cách khéo léo.

Người Việt ta sang Mỹ lần đầu đều bị choáng bởi cái gì của họ cũng to, từ cốc coca đến bánh mỳ, từ đường xá đến cao ốc. Ly café Trung Nguyên nhỏ giọt vài hớp là hết, cốc giấy café Starbucks nửa lít, uống no cả ngày.

Nơi ...ào ào, nơi nhẩn nha ngó trời đất

Starbucks mở ở Việt Nam, thời gian đầu sẽ bị lỗ, vì cách thưởng thức café ở hai nơi khác nhau.

Một nơi ào ào đến, ào ào đi, cười đấy, khóc đấy, làm gì cũng nhanh, vì tác phong công nghiệp.

Một nơi phải nhẩn nha, ngó trời đất, đọc thơ, khoe Facebook. Uống café ực phát hết cốc, người ta gọi là "phàm phu tục tử".

Starbucks khó mà sống ở Hà Nội bởi tên tuổi như café Nhân, Lâm, Giảng... đã đi vào huyền thoại. Cánh xa xứ thường tìm về bởi những bài báo ca ngợi chốn lãng đãng ở góc phố cổ đã nhuốm mầu thời gian.

Thời thế đổi thay, nay có thêm Highland, Trung Nguyên và nhiều tên tuổi gợi cho ta tính trẻ trung và ăn nhanh nhiều hơn là thứ café Nhân "nhỏ giọt" tý tách cả ngày.

Anh Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ hãng Trung Nguyên, mới đây tuyên bố, anh muốn lãnh đạo café thế giới, khi nghe tin Starbucks mở cửa đầu tiên vào tháng 2-2013 tại tp. Hồ Chí Minh. Không sợ cạnh tranh cũng đúng vì anh cho rằng, Starbucks chỉ là "người khổng lồ không có bản sắc".

Anh Vũ nói có lý của anh ấy, bởi Trung Nguyên rất giầu. Chiến lược quảng cáo hoành tráng, hệ thống cửa hàng khắp nước, nhãn hiệu xuất hiện tại 60 nước trên thế giới.

Với 150 ngàn nhân viên, Starbucks cũng tự tin bởi doanh thu hàng năm hàng chục tỷ đô la với hơn 20.000 cửa hiệu tại 61 quốc gia. Riêng tại Mỹ có hơn 13 ngàn, 1300 tại Canada, gần 1000 tại Nhật và Thái Lan có tới 164 cửa hàng.

Nhãn hiệu là nàng tiên cá xõa tóc hai bên, nhìn người uống đắm đuối. Ngắm người đẹp sẽ thấy cả kho chuyện đời, chuyện xưa, chuyện nay, chuyện ngày mai. Đôi mắt bảo ta hãy chia sẻ, bởi triết lý nằm dưới đáy cốc, không phải hương vị.

Mới đây hãng bỏ hẳn chữ Starbucks Coffee ra khỏi logo, ngoài chuyện muốn bán thêm đồ ăn khác, bởi họ tự tin, biết hàng trăm triệu khách nghiện chỉ cần nhìn nàng tiên cá cũng biết giấc mơ Mỹ đây rồi.

Lần đầu thử Starbucks thấy nhạt như nước lã, không biết pha sữa và đường thì chỉ còn cách đổ đi. Nhưng uống lâu lâu cũng thấy ngon và nghiện như ai. Nó giống thứ... dân chủ Mỹ ngấm từ từ, thay đổi bạn lúc nào không biết. Không ồn ào như lúc họ pha café bằng máy chảy nhanh như vòi nước và uống như nước giải khát. Sức mạnh mềm Hoa Kỳ đến từ từ bằng fast food.

Café Trung Nguyên thơm lừng, pha tầng 9, tầng 10 ngửi thấy, tầng 8 cũng biết. Nhấm nháp thấy hương vị đời sao mà đẹp hơn tiên. Văn hóa café "phin" nhỏ giọt đã ngấm vào người thưởng thức nên sự năng động của xã hội cũng kém đi nhiều. Đất nước chuyển mình chậm bởi người dân đi làm sáng còn la cà quán xá, đợi "phin" chảy hết nước sánh thơm ngon xuống cốc.

Giấc mơ Mỹ có đứng nổi trên đất Việt?

Hoa Kỳ sinh sau ta tới mấy ngàn năm, nhưng đi lại trước ta khá xa, bởi quảng cáo Starbucks đơn giản "Your drink should be perfect every time. If not, let us know and we'll make it right. - Ly café phải luôn tuyệt vời. Nếu không, xin nói, chúng tôi sẽ pha như quí vị muốn".

Starbucks đã vào Sài Gòn trong tháng trước. Tên gốc lấy từ một nhân vật Starbucks trong truyện chú cá voi Moby-Dick khổng lồ thắng cả người có trí khôn. Bạn đọc tới thử và nhớ phản hồi trên mặt báo.

Nếu sau ba tháng mà Starbuck không thuyết phục nổi bạn, thì ước vọng của anh Đặng Lê Nguyên Vũ lãnh đạo thế giới café thành hiện thực và giấc mơ Mỹ khó có chỗ đứng trên đất Việt.

Có lẽ nào, café hạt của Việt Nam nổi tiếng, xuất khẩu đứng thứ hai và chiếm tới 14,5% thị trường thế giới, chỉ đứng sau Brazil, mà sản phẩm đầu cuối là ly café bốc khói lại không thể là thương hiệu quốc tế.

Starbucks vào Việt Nam sẽ giúp cho hương vị café Việt Nam bay xa nếu như ta biết đối mặt với thách thức, có những bước đi thích hợp nhằm cải tiến chất lượng, cách phục vụ và quan trọng là giá cả hợp lý.

Nói vui thêm chút. Tuy Trung Nguyên và Starbucks khác nhau, nhưng giống nhau ở một điểm: Trong lúc uống ly café cạn tới đáy để tìm triết lý hay ngắm người đẹp ngồi đối diện mà chẳng ai nhớ rằng, cái ví đang bị móc một cách khéo léo.

Hiệu Minh (từ Washington DC)
Nguồn: tuanvietnam
Tin bài khác:

Wednesday, July 25, 2012

Tài trợ cho Olympic: Một vốn có được bốn lời?

[Thương hiệu] Các nhãn hiệu tài trợ cho Olympic luôn phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt từ Ban tổ chức về các hoạt động quảng cáo. Vậy điều gì đã thu hút các nhãn hiệu đổ tiền của cho giải thi đấu thể thao lớn nhất hành tinh này?

Nguyên tắc của Thế vận hội duy trì hàng trăm năm qua là quảng cáo không được cho phép xuất hiện trong sân vận động, không có logo nhà tài trợ trên trang phục của các vận động viên (ngoại trừ tại Paralympic)...

Đại diện của Ban tổ chức Thế vận hội Olympic và Paralympic London (LOCOG) cho biết: “Các quy định của chúng tôi rất rộng và vì thế, bất kỳ chiến dịch nào ăn theo Olympic đều là vi phạm. Kể cả các quảng cáo không nói trực tiếp mà chỉ gợi liên tưởng cũng sẽ bị xử lý”. Thậm chí, vận động viên sẽ bị tước huy chương nếu quảng cáo gián tiếp trên Twitter, Facebook hay blog...

Dù quy định ngặt nghèo nhưng các hoạt động thương mại liên quan đến Olympic vẫn là một cuộc đua tranh quyết liệt. Ngân sách của Chính phủ Anh dành cho tổ chức Thế vận hội năm nay đã lên đến 14,5 tỷ USD so với ước tính ban đầu là 2,4 tỷ USD.

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) đã gây quỹ được 4,87 tỷ USD bằng tiền bản quyền phát sóng và các khoản tài trợ bốn năm. LOCOG đã huy động 700 triệu bảng trong tài trợ bán vé và đồ lưu niệm có gắn logo Olympic.

Martin Sorrell, ông chủ của công ty quảng cáo WPP, dự báo Thế vận hội sẽ bơm vào thị trường quảng cáo Mỹ từ 800 triệu USD - 1 tỷ USD năm nay. Còn theo ước tính của ZenithOptimedia, thị trường quảng cáo toàn cầu sẽ đạt 1,3 tỷ USD từ Olympic.

Mười một nhà tài trợ toàn cầu (được gọi là Đối tác hàng đầu Thế vận hội) trả chi phí cho Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) để mua quyền sử dụng thương hiệu Olympic. Chỉ có một nhà tài trợ trong mỗi hạng mục thương mại: Coca-Cola cho nước giải khát, Panasonic cho TV...

Giá trị của mỗi hợp đồng được giữ bí mật, nhưng tổng số tiền tài trợ cho 4 năm 2009-2012 là 957 triệu USD. Nhà tài trợ có thể trả bằng tiền mặt, bằng hiện vật, hoặc cả hai.

Tuy nhiên, hầu hết các nhà tài trợ hàng đầu, chẳng hạn như McDonald’s, Omega, Panasonic và Procter & Gamble đều có chiến lược quảng cáo riêng khi tài trợ cho Olympic, nhưng có điểm chung là tránh “thương mại hóa thô thiển”.

Tất cả các nhãn hàng khi gắn với sự kiện thể thao lớn này đều muốn gắn thương hiệu với tinh thần “chơi đẹp - fair play”, hoặc tận dụng sự lan tỏa toàn cầu.

Cũng chính vì lý do “fair play”, các quan chức của IOC đã phải cân nhắc có nên tiếp tục cho phép hãng đồ ăn nhanh McDonald’s tài trợ cho giải thi đấu thể thao này. IOC lo ngại số người béo phì ngày càng gia tăng trên toàn cầu có thể làm ảnh hưởng tới hình ảnh của Olympic nếu còn nhận tài trợ từ McDonald’s...

Một nghiên cứu của Đại học Columbia (Mỹ) cho thấy, những công ty có những “tài trợ hào phóng” đều có kết quả kinh doanh tốt. Nghiên cứu 51 công ty Mỹ đã bỏ ra hơn 15 triệu USD hằng năm tài trợ (chủ yếu là các môn thể thao) từ năm 2005 và 2009 cho thấy, lợi nhuận ròng của công ty này tăng trưởng nhanh hơn so với các công ty trong nhóm S&P 500 (6,5%-7,8% mỗi năm).

Các nhà tài trợ lớn còn gặt hái kết quả tốt hơn: 16 nhà tài trợ dành trên 160 triệu US tài trợ/năm có doanh thu tăng 22,1% mỗi năm.

Đặc biệt, khi tài trợ cho các sự kiện thể thao lớn, các thương hiệu thường có độ lan tỏa mạnh. Coca-Cola và IBM tài trợ cho thể thao để làm cho người tiêu dùng cảm thấy “ấm áp” hơn về thương hiệu của mình và nâng cao giá trị khi gia nhập thị trường toàn cầu.

Coca-Cola đã tài trợ cho Olympic kể từ năm 1928 và đã ký hợp đồng tài trợ cho tới năm 2020 và hãng này luôn nằm trong nhóm các thương hiệu giá trị nhất toàn cầu. Tuy nhiên, Samsung có lẽ là ví dụ tốt nhất về tận dụng cơ hội tại Olympic.

Năm 1997, hãng này đã qua mặt Motorola để trở thành nhà tài trợ Olympic ở hạng mục điện thoại di động. Đến nay, theo Interbrand, Samsung là thương hiệu giá trị thứ hai tại châu Á (sau Toyota).

Chính vì thế, một nhãn hàng mới nổi tại châu Á là Acer cũng quyết tâm giành quyền tài trợ cho Olympic từ tay đối thủ Lenovo. Theo đó, Acer cung cấp máy tính cho Olympic ở một số khu vực thi đấu, bao gồm các dịch vụ tin học tại Trung tâm điều hành công nghệ Olympic, Trung tâm báo chí, Làng Olympic cho các vận động viên và quan chức thể thao.
--------------------
11 nhà tài trợ cho Olympic 2012

- McDonald’s
- Visa
- Omega
- Acer
- Coca-Cola
- Panasonic
- Procter & Gamble
- General Electric
- Dow Chemical
- Atos
- Samsung

--------------------
Theo DNSG (Hồng Kha)

Wednesday, July 18, 2012

Tribeco: Chết đắng trong mật ngọt

[Thương hiệu] Khi đã nằm trong tay nước ngoài, liệu thương hiệu Công ty CP Nước giải khát Sài Gòn - Tribeco có theo chân một loạt các thương hiệu mạnh Việt Nam trước đây lần lượt biến mất?

Từng được đề xuất chọn làm sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM và cổ phiếu TRI luôn lọt vào danh mục nắm giữ của các quỹ đầu tư tên tuổi như VinaCapital, PXP Vietnam Fund. Thế nhưng, con đường lao dốc của Tribeco xảy ra khi dính vào các vụ mua bán, sáp nhập (M&A), để đến giờ thương hiệu vàng Tribeco một thủa phải xin rời sàn trước khi buộc phải hủy niêm yết do thua lỗ triền miên. Sự thoái trào của Tribeco bắt nguồn từ quản trịdoanh nghiệp yếu kém hay đây lại là nạn nhân của chiến lược chuyển giá hoặc bị dìm hàng để thâu tóm?

Dưới đỉnh cao là vực sâu

Thương hiệu vàng Tribeco lao dốc ngay khi có những cú bắt tay bên ngoài đầu tiên.

Trong ngành hàng nước giải khát, mỗi thương hiệu lớn đều định vị một phong cách riêng nhằm tiếp thị sản phẩm. Nếu như các đại gia Coca-Cola, Pepsi luôn chọn các siêu sao hay những sự kiện thể thao, âm nhạc lớn nhằm quảng cáo cho sản phẩm, thì Tribeco chung thủy với cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình TP.HCM.

Một thời gian dài gắn liền với một sự kiện thể thao mang tầm vóc khu vực, thương hiệu Tribeco có độ phủ khá rộng, tên tuổi được người tiêu dùng cả nước biết đến. Một số sản phẩm của Tribeco không chỉ bán chạy mà còn được ưa thích, như: TriO, Somilk, Tribeco trà bí đao.

Trong 11 năm liền, Tribeco lọt vào danh sách Hàng Việt Nam chất lượng cao. Thậm chí, sản phẩm sữa đậu nành và nước ngọt có gas của Tribeco còn được đề xuất chọn làm sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM.


Nắm thương hiệu mạnh, lại thuộc tốp các công ty cổ phần kinh doanh ổn định, Tribeco thuộc lứa các doanh nghiệp hạt giống được thúc đẩy lên niêm yết sớm, làm công tác tạo hàng cho thị trường chứng khoán. Suốt một thời gian dài, quãng những năm 2001-2005, cổ phiếu TRI luôn lọt vào danh mục nắm giữ của các quỹ đầu tư tên tuổi như VinaCapital, PXP Vietnam Fund.

Thời gian đó Tribeco kinh doanh tốt, cổ tức duy trì đều đặn hằng năm không dưới 18%. Các đợt tăng vốn điều lệ Tribeco đều sử dụng lợi nhuận tích lũy mà không cần huy động tiền từ các cổ đông.

Vào năm 2005, Tribeco "bén duyên" với Kinh Đô. Với hơn 35% cổ phần mua lại từ các quỹ đầu tư nước ngoài, thương hiệu bánh kẹo nổi tiếng nhất thị trường nội địa trở thành cổ đông lớn nhất của Tribeco và không giấu tham vọng thâu tóm.

Thời điểm đó, trả lời trước báo giới, ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Kinh Đô, cho biết, có thể lập một công ty nước giải khát mới nhưng mất nhiều thời gian để xây dựng thương hiệu, mở thị trường, quảng bá sản phẩm.

Đầu tư vào một thương hiệu mạnh trong ngành hàng nước giải khát như Tribeco, Kinh Đô có thể bỏ qua giai đoạn đầu và sau một thời gian ngắn có thể đưa thương hiệu này phát triển lên một tầm cao mới.

Sau Kinh Đô, Tribeco tìm được "ý trung nhân" thứ hai là Tập đoàn Thực phẩm Uni - President. Nhưng cam kết hỗ trợ của đối tác chiến lược Đài Loan chưa kịp phát huy hiệu quả thì Tribeco gây sốc cho giới đầu tư khi công bố lỗ 145 tỷ đồng trong năm 2008, vốn chủ sở hữu âm 5,32 tỷ đồng dù ba quý đầu năm báo lãi.

Nhằm cấp vốn cho Tribeco hoạt động, hai cổ đông lớn bỏ ra hàng trăm tỷ đồng trong nỗ lực vực dậy Công ty. Tuy nhiên, nỗ lực giải cứu bất thành khi cuối năm 2009 Tribeco tiếp tục báo lỗ hơn 82 tỷ đồng.

Trong năm 2010, việc chuyển nhượng phần vốn góp tại nhà máy Tribeco Bình Dương và Tribeco Miền Bắc, Tribeco đem về mức lãi tượng trưng đủ giúp Công ty không bị hủy niêm yết bắt buộc. Đà sa sút này chưa dừng lại vì cuối năm 2011 Tribeco tiếp tục chìm nghỉm với khoản lỗ 86 tỷ đồng.

Vốn chủ sở hữu một lần nữa âm 20,5 tỷ. Kinh doanh yếu kém, Tribeco chủ động xin rời sàn trước khi buộc phải hủy niêm yết bắt buộc. Hình ảnh hào hùng của Tribeco một thủa giờ đây trở thành bi quan cùng cực khi Đại hội cổ đông mới đây, HĐQT xin Đại hội cấp "quota"... để lỗ tiếp gần 140 tỷ đồng trong năm nay!

Quả đắng M&A

Ít nhất ở bề mặt, Tribeco đã tỏ rõ sự yếu kém trong quản trị khiến nhãn hàng này ngày càng mờ nhạt.


Về con số lỗ trong năm 2008 giải trình với Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, ông Nguyễn Xuân Luân, Tổng giám đốc Tribeco khi đó, cho biết, các khoản thua lỗ lớn của Tribeco đến từ trích lập dự phòng đầu tư tài chính, nợ khó đòi, chi phí quảng cáo, lỗ trong các công ty liên doanh.

Mặc dù được xem như một thương vụ lớn của Kinh Đô nhưng kể từ thời điểm Tribeco sa lầy, rất ít khi phía Kinh Đô lên tiếng đến thương vụ M&A này. Kể cả trong các kỳ họp Đại hội cổ đông, những lý do được HĐQT đưa ra mổ xẻ sự thoái trào của Tribeco cũng không khác với các thông tin cung cấp cho cơ quan quản lý bao nhiêu.

Sau cú sốc năm 2008, kết quả kinh doanh của Tribeco sau đó không thể tệ hơn khi lỗ 12/13 quý liên tiếp. Thời gian này, rất nhiều lần cổ phiếu TRI nằm trong danh sách hạn chế hay tạm ngưng giao dịch để công ty công bố thông tin giải trình về tài chính.

Những quỹ đầu tư nước ngoài như Citigroup Global Market Ltd., Vietnam Investment Limited dù kiên định bám trụ thị trường Việt Nam sau khủng hoảng năm 2008 cũng tháo chạy ra khỏi Tribeco.

Đề cập đến các con số thua lỗ, quanh đi quẩn lại Ban lãnh đạo Tribeco dù người Việt hay Đài Loan cũng nêu một số lý do cũ mèm như: chi phí lãi vay, chi phí bán hàng, chi phí quảng cáo marketing sản phẩm, chi phí lập lại kênh phân phốn... ăn mòn lợi nhuận của cổ đông.

Tuy nhiên, những người trong giới kinh doanh đưa ra lý giải khác hẳn. Chẳng hạn, giám đốc tiếp thị một doanh nghiệp nước giải khát cùng ngành nhận xét trên góc độ sổ sách hành trình đi xuống của Tribeco bắt đầu từ cuối năm 2008 nhưng thực tế diễn ra trước đó khá lâu.

Sau ngày Kinh Đô vào Tribeco, thay vì cử nhân sự cao cấp sang điều hành trực tiếp, cổ đông lớn chọn cách sử dụng nhân sự cũ. Tuy nhiên, có thể đây là một nước cờ nhầm vì sau khi Kinh Đô mua cổ phần người ta có cảm giác Tribeco chạy "tự động" một thời gian dài mất lái trước khi Kinh Đô nhận ra vấn đề và điều chỉnh.

Có lãnh đạo cũ Tribeco có mặt ở sân golf nhiều hơn ở Công ty. Các con số trên sổ sách kế toán có thể phản ánh không đúng thực tế cho đến khi cổ đông lớn nỗ lực minh bạch hóa vào cuối năm 2008.

Trong khi đó, một thành viên HĐQT cũ nhận xét, gần đây Tribeco không giới thiệu được một sản phẩm chủ lực nào để định vị tên tuổi: Trà xanh 100 giống một bản sao mờ nhạt sản phẩm cùng loại của Tân Hiệp Phát, sản phẩm sữa đậu nành được ưa thích một thời bị các cơ sở chế biến nhỏ nhái tràn lan.

Nhiều nhãn hàng còn lại tỏ ra không mấy cạnh tranh. "Vòng đời của một sản phẩm nước giải khát khá ngắn, luôn đòi hỏi phải làm mới. Nhưng cả quảng cáo và công tác R&D của Tribeco gần đây không có gì đột phá so ngay cả với các đối thủ nội địa. Trong đó, với phân khúc nước giải khát bình dân, nhãn hàng và chiến lược marketing mới là yếu tố số một làm nên thành công", cựu lãnh đạo của Tribeco tỏ ra nuối tiếc.

Sự thoái trào của Tribeco có phần bắt nguồn từ công tác quản trị doanh nghiệp là góc nhìn của TS. Lê Đạt Chí, Trưởng Bộ môn Đầu tư Tài chính Đại học Kinh tế TP.HCM. Theo ông Chí, Kinh Đô là cổ đông lớn tại Tribeco nhưng trước đây Tribeco còn tham gia sở hữu cổ phần của các thành viên Tập đoàn Kinh Đô như việc mua cổ phiếu NKD, Kido's.

Chưa dừng lại, Tribeco và Kinh Đô lại cùng góp vốn thành lập Công ty CP Tribeco Bình Dương và Tribeco Miền Bắc. Chính những mối quan hệ chằng chịt này khiến năm 2008 Tribeco không chỉ lỗ trong liên doanh mà còn thua lỗ nặng từ đầu tư tài chính.

Dìm hàng để thâu tóm?

Sau khi hủy niêm yết, Đại hội cổ đông thường niên Tribeco cuối tháng 6 vừa qua ghi nhận sự chuyển giao quyền lực khi 3 nhân sự cao cấp của Công ty CP Kinh Đô cùng rút lui khỏi HĐQT, nhường ghế cho đối tác ngoại Uni - President.


Nhắc đến sự sa lầy của Tribeco không thể không đặt dấu hỏi về vai trò của cổ đông lớn Uni - President. Sau khi mua 15% cổ phần của Tribeco vào năm 2007, hiện nay, tập đoàn thực phẩm Đài Loan đã nâng tỷ lệ sở hữu ở Tribeco lên 43,56%.

Nghịch lý ở chỗ khi thương hiệu Việt làm ăn bết bát, Kinh Đô giảm dần tỷ lệ sở hữu thì đối tác Đài Loan tiếp tục rót vốn hỗ trợ Tribeco mở rộng mạng lưới và tăng tỷ lệ nắm giữ. Không dừng lại, những năm qua, bộ máy điều hành người Việt Nam tại Tribeco lần lượt được thay thế bằng các nhân sự của Uni - President.

Đại hội cổ đông vừa qua còn đánh dấu bước ngoặt sắp tới với Tribeco khi 3 lãnh đạo cao cấp của Kinh Đô rời khỏi HĐQT, nhường ghế cho nhân sự của Uni - President.

Từ góc độ phân tích độc lập, bà Ngô Như Diễm, chuyên viên theo dõi ngành thực phẩm của Vietstock, đánh giá, bất chấp khủng hoảng kinh tế từ năm 2008 tới nay, doanh số của Tribeco vẫn tăng trưởng đều đặn. Doanh số tăng chứng tỏ Tribeco vẫn bán được hàng.

Bán được hàng nhưng Tribeco đều đặn lặp lại điệp khúc lỗ. Margin trung bình của ngành hàng nước giải khát trên dưới 20% không hề thấp so với các lĩnh vực khác nhưng yếu huyệt của Tribeco là việc kiểm soát chi phí.

Tuy nhiên, nếu so với hiệu quả kinh doanh ổn định của một thương hiệu cùng đẳng cấp là Nước giải khát Chương Dương thì sự thua lỗ kéo dài của Tribeco mang dấu hỏi lớn.

Trưởng phòng Phân tích của Công ty Chứng khoán KimEng (KEVS), bà Nguyễn Thị Ngân Tuyền, phụ trách ngành hàng tiêu dùng, nhận xét: "Về bản chất, công thức kinh doanh của ngành hàng nước giải khát là hương liệu + nước tinh khiết = sản phẩm. Vì vậy, mức thua lỗ kéo dài của Tribeco là rất khó hiểu. Đặc biệt khá lạ là suốt một thời gian dài thương hiệu này không đề ra được biện pháp hiệu quả nào khả dĩ để cải thiện hiệu quả hoạt động dù đội ngũ lãnh đạo không thiếu kinh nghiệm. Uni- President khá thành công với sản phẩm mì gói tại thị trường Việt Nam nên không thể nhìn nhận họ là tay mơ trong ngành hàng tiêu dùng".

Chuyên viên phân tích của KEVS nhận xét, hiện tại chỉ một lượng nhỏ người tiêu dùng Việt Nam tham gia đầu tư chứng khoán nên đứng ở góc độ thương hiệu, tên tuổi Tribeco vẫn khá mạnh. Thua lỗ kéo dài nhưng điểm sáng là Công ty vẫn giữ được hệ thống phân phối và bán hàng.

Đáng chú ý, theo báo cáo thường niên, năm 2012 Tribeco đưa ra định hướng đẩy mạnh hoạt động gia công và xuất khẩu, trong đó có việc gia công cho các liên doanh của Uni - President. Điều này càng khiến giới phân tích nghi ngờ Tribeco có thể là nạn nhân của chiến lược chuyển giá hay bị dìm hàng để thâu tóm.

Cần nhắc lại, trong quá trình hội nhập, nhiều thương hiệu Việt Nam với hệ thống phân phối mạnh đã lần lượt bị thâu tóm qua hình thức liên doanh như Sơn Hải - Colgate (thương hiệu Dạ Lan); liên doanh Coca-Cola - Chương Dương... Lần này Tribeco có theo gót?

Theo DNSG cuối tuần/Vef
-----------------------------
139,6 tỷ đồng
Tribeco đã hủy niêm yết tự nguyện cổ phiếu TRI từ ngày 9/4/2012. Nếu không hủy niêm yết tự nguyện thì TRI cũng bị hủy niêm yết bắt buộc do âm vốn chủ sở hữu. Đến 31/12/2011, Tribeco có lỗ lũy kế là 312 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu -26 tỷ đồng.

Năm 2012 dự kiến lỗ 139,6 tỷ đồng, lãnh đạo Kinh Đô rút khỏi HĐQT
-----------------------------

Sunday, July 8, 2012

Biến đối thủ thành đối tác

[Marketing3k - Quản trị] Trong thời điểm kinh tế suy thoái nhiều biến động, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thế giới đang có xu hướng áp dụng một chiến thuật kinh doanh rất thú vị: liên minh và hợp tác với chính đối thủ cạnh tranh của mình để tối ưu hóa nguồn lực, cộng hưởng sức mạnh và tiết kiệm chi phí trong thị trường đang bị co hẹp.

Tuy nhiên, trước khi bạn quyết định biến thù thành bạn với các cựu đối thủ, hãy cân nhắc tìm hiểu kinh nghiệm của những người trong cuộc.

1. Hợp tác bằng niềm tin

Phần lớn các CEO của các tập đoàn lớn đều thừa nhận họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn hơn trước khi bắt tay hợp tác với đối thủ của mình.
Tương tự như những khó khăn trong quá trình thâu tóm và sáp nhập, hãy tưởng tượng rằng hai CEO vốn lãnh đạo theo phong cách quản trị khác nhau, giờ đây họ lại nằm trong một ban điều hành công việc hợp tác chung với nhau và buộc phải phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Thực tế, có những liên minh đã phải mất một thời gian khá dài để xây dựng được niềm tin trong công việc.

Bề ngoài các liên minh thường gắn kết, nhưng trong các công tác nội bộ lại luôn tồn tại những câu hỏi đắn đo kiểu như: “Nên tiết lộ lượng thông tin thế nào là vừa đủ?; Có nên giành lấy khách hàng này về phần công ty mình hay không? hay vị trí của công ty trên thị trường sẽ thế nào đây?”... Kinh nghiệm cho thấy, chấp nhận đặt niềm tin vào nhau, mất đi một chút tự lập trong công việc trước đây, nhưng bạn sẽ thu lại những kết quả khả quan hơn nhiều.

2. Thay đổi khái niệm “đối thủ”

Phần lớn các công ty, ngay sau khi loan báo về việc hợp tác với đối thủ cạnh tranh của mình rộng rãi đến các khách hàng, đã phải tốn khá nhiều thời gian để trần tình với dư luận về dự án đang hình thành giữa hai bên. Đây là lúc họ phải công khai cách nhìn nhận mới về đối tác mới để thuyết phục các khách hàng vốn hay đa nghi. Một số những “liên minh đối thủ”, sau khi kết hợp với nhau mới vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị về “cựu” đối thủ của mình, chẳng hạn như “hắn ta” chẳng hề đáng gờm chút nào như mình vẫn từng nghĩ.

Bên cạnh đó, nối ám ảnh về việc bị dành mất lượng khách hàng cũng ngày càng nhạt dần, bởi bên cạnh những lĩnh vực hợp tác chung, hai bên vẫn xác định và đảm bảo được đâu là thị trường cạnh tranh chính của riêng mình.

3. Xây dựng một thể thống nhất

Công việc hợp tác đòi hỏi sự đồng lòng giữa những nhà lãnh đạo. Đặc biệt nhất là người có khả năng dung hoà các ý kiến để gợi nên một quyết định thống nhất, và biết bác bỏ những ý kiến còn mang cái tôi quá cao mà sa vào lợi ích cục bộ. Các nhà quản lý cũng phải vượt qua những thành kiến cũ về nhau, khi còn trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt, để bắt tay hợp tác vì lợi ích chung phía trước.

Liên minh đối thủ sẽ đòi hỏi mỗi thành viên trong đó biết mình phải làm những gì và không được làm những gì. Bởi vậy, mỗi thành viên trong liên minh phải tự nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình và không được tự ý phá vỡ những quy tắc được đề ra, bởi chỉ cần một thành viên không làm tròn bổn phận hoặc lấn sân, ắt toàn bộ các khâu còn lại sẽ bị ảnh hưởng nặng nề dẫn tới những hệ lụy khó lường cho cả hai bên.

4. Cẩn trọng “Gót chân Asin”

Mỗi công ty đều tồn tại những yếu điểm “chết người”, nhiều khi chất lượng hoạt động của đối tác sẽ gây ảnh hưởng không chỉ đến việc hợp tác chung mà còn đến công việc kinh doanh độc lập của công ty bạn. Do đó, việc để lộ “Gót chân Asin” còn không nguy hiểm bằng bị tổn thưởng bởi yếu điểm của đối tác. Khi đó, cho dù bạn có “hất chân” thành viên ấy đi hay không, thì hậu quả vẫn sẽ còn nằm lại với công ty bạn cũng như các thành viên khác.

Bởi vậy, bài học ở đây là nhận biết rõ về ưu thế của đối thủ và phân công đúng trách nhiệm với họ khi hợp tác kinh doanh. Một liên minh giữa các cựu đối thủ, chuyện thành hay bại nhiều khi lại nằm trong những yếu điểm của đối tác. Như vậy, để hợp tác với chính đối thủ cạnh tranh của mình, quan trọng nhất là bạn phải biết chọn lọc và nhận biết ưu - nhược điểm của họ, cũng như cân nhắc tiềm năng của việc hợp tác cho cả hai bên và có một quy trình phân công chặt chẽ.

Vượt qua những thành kiến về nhau và xây dựng lòng tin cho giai đoạn hợp tác mới, bạn sẽ có cơ hội tiến tới những thành công mới mà trước đây, bạn phải cạnh tranh khốc liệt mới có được.

Nguồn: Thời báo kinh doanh

Tuesday, July 3, 2012

Xử lý than phiền của khách hàng về giá

[Marketing3k.vn] Khi khách hàng phàn nàn hoặc kêu ca rằng giá bán đắt quá thì nhân viên bán hàng trả lời ra sao đây?

Theo ý kiến của Bob Nicols - Tổng giám đốc điều hành của Axiom Sales Force Development, một tổ chức phát triển đội ngũ bán hàng, nhân viên bán hàng không nên áp dụng một công thức rập khuôn đã được học trong các khóa đào tạo kỹ năng bán hàng, mà nên tuần tự thực hiện các bước sau đây.

1. Tìm hiểu bản chất sự than phiền của khách hàng. 

Khi khách hàng kêu ca giá cao, nhân viên bán hàng nên tìm hiểu liệu có ẩn ý gì đằng sau sự than phiền đó.

Hãy tự hỏi rằng nếu bỏ qua yếu tố giá thì ta có sản phẩm (hay dịch vụ) mà khách hàng thật sự muốn mua không? Nếu câu trả lời là “Không” thì vấn đề không phải chỉ nằm ở giá, mà ở nhiều yếu tố khác.

Trong trường hợp này, nhân viên bán hàng cần đặt thêm câu hỏi để xác định những băn khoăn của khách hàng đối với sản phẩm (hay dịch vụ) mà mình đang chào bán là gì. Hãy xử lý những yếu tố đó trước khi đề cập đến giá cả vì việc thương lượng giá sẽ chẳng có nghĩa gì nếu khách hàng không muốn mua món hàng doanh nghiệp đang bán.

Ngược lại, nếu câu trả lời là “Có” thì nhân viên bán hàng mới tập trung vào vấn đề giá. Giá bán như vậy cao hơn so với giá của đối thủ cạnh tranh hay cao hơn so với túi tiền của khách hàng? Mức giá đó có cao không khi so với lợi ích mà khách hàng sẽ thu được khi dùng sản phẩm?

Nếu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh rẻ hơn, nhân viên bán hàng cần giải thích theo hướng “Tiền nào của nấy” và phân tích vì sao sản phẩm của mình có giá trị cao hơn. Còn khi giá không phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng, nhân viên bán hàng phải giải thích rõ về các phương thức thanh toán.

2. Thể hiện sự đồng cảm với khách hàng.

Khi hiểu được khách hàng than phiền có ý phản đối chứ không phải là ra điều kiện để được giảm giá, nhân viên bán hàng có thể bắt đầu thương thảo với khách hàng theo hướng hai bên trở thành những đối tác cùng đi tìm giải pháp cho vấn đề mà khách hàng đang gặp.

Hãy làm điều này bằng cách thể hiện sự đồng cảm đối với những quan ngại của khách hàng. Chẳng hạn, nếu khách hàng phản đối giá cao khi so sánh với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh, nhân viên bán hàng có thể nói: “Tôi hoàn toàn hiểu mối lo ngại về giá của ông. Chi phí chắc chắn là một yếu tố rất quan trọng và ông cân nhắc là phải. Khi mua và sử dụng hàng của chúng tôi, ông sẽ thấy số tiền mình đã trả là hoàn toàn xứng đáng với những lợi ích mà món hàng mang lại”.

Những câu nói như thế sẽ đưa nhân viên bán hàng và khách hàng về cùng một phía, đồng thời khách hàng cũng cảm thấy mình được quan tâm và tôn trọng.

3. Cùng khách hàng tìm ra các giải pháp có thể.

Sau khi lôi kéo khách hàng về mình bằng sự đồng cảm và chia sẻ về vấn đề mà khách hàng đang gặp, nhân viên bán hàng cần chủ động gợi ý để cùng khách hàng tìm ra một vài hướng giải quyết vấn đề.

Nhân viên bán hàng có thể đưa ra những ý kiến giúp khách hàng tự đưa ra giải pháp cho vấn đề của mình. Xin lưu ý rằng giữa người mua và người bán lúc nào cũng có một số điều đồng quan điểm, đồng cảm mà nhân viên bán hàng biết tận dụng thì sẽ thuyết phục được khách hàng chuyển từ ý định không mua thành mua.

Sau khi đã vạch ra hết các giải pháp, nhân viên bán hàng có thể chuyển hướng giúp khách hàng chọn giải pháp phù hợp nhất cho cả hai. Chẳng hạn, nếu khách hàng cho rằng doanh nghiệp đang thiếu một dịch vụ toàn cầu thì nhân viên bán hàng có thể xua tan nỗi băn khoăn đó bằng cách giới thiệu dịch vụ hỗ trợ qua internet từ hội sở.

Tương tự, nếu khách hàng lo ngại không có đủ tiền để trả ngay một lần thì giải pháp có thể là giảm số lượng hoặc mua thành nhiều đợt hay mua trả chậm.

Theo Inc  (nhuongquyenkinhdoanh)

Saturday, June 30, 2012

M&A từ góc nhìn marketing

[Marketing3k - M&A] Chưa bao giờ nền kinh tế Việt Nam lại chứng kiến xu hướng mua bán - sáp nhập doanh nghiệp (M&A) sôi động như 3 năm gần đây.
Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng từ năm 2008, nhưng không vì thế mà các thương vụ M&A ở Việt Nam bị ảnh hưởng, thậm chí số lượng thương vụ đã tăng lên hẳn. Tuy nhiên chất lượng của các thương vụ này vẫn là một dấu chấm hỏi.

Theo thống kê của Viện Nghiên cứu mua bán - sáp nhập và Liên kết (IMAA), năm 2011 có 412 giao dịch M&A được thực hiện tại Việt Nam, với tổng giá trị gần 4,7 tỷ USD; tổng số giao dịch mua M&A tăng 7% so với năm 2010. Nhưng ấn tượng hơn là, giá trị các thương vụ này đã tăng hơn 2 lần (tăng 103%) và là giá trị giao dịch lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam.

Trong 4 tháng đầu năm 2012, thị trường M&A đã chứng kiến những thương vụ gây tiếng vang lớn như Eximbank - Sacombank; Glico - Kinh Đô; Kusto - Cotencons; CT Group - GS E&C; Doji - Tien Phong Bank; Hanel - Hanoi - Daewoo Hotel. Điều này làm cho M&A trở thành chủ đề nóng hổi được các doanh nhân và chuyên gia kinh tế quan tâm.

Các hội thảo, các cuộc tranh luận, sự kiện và truyền thông về M&A và các vấn đề liên quan đến M&A như pháp luật, tài chính, luật cạnh tranh, v.v... đều được mổ xẻ kỹ lưỡng, duy chỉ có marketing trong M&A là khái niệm ít được đề cập nhất.

Trong một cuộc hội thảo, một khán giả đặt câu hỏi: “Vai trò của marketing trong M&A là gì? Xin diễn giả hãy chia sẻ những kinh nghiệm và best practices về marketing trước M&A, trong quá trình M&A và sau M&A?”. Câu hỏi này đã bắt bí các diễn giả M&A, tuy nhiên nó cho thấy một thực tế cần phải xem lại vai trò của marketing trong việc nâng cao hiệu quả của các thương vụ M&A.

Trước hết chúng ta cần phải xem xét các đối tác cùng tham gia vào quá trình quản trị doanh nghiệp. Các đối tác này không chỉ có các cổ đông chính (shareholders) là những nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp, mà còn có các đối tác khác (stakeholders) đóng vai trò quan trọng không kém đối với sự thành công của một doanh nghiệp. Họ là nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối, công đoàn v.v… Các đối tác này có quyền được biết về vận mệnh của doanh nghiệp họ đang cống hiến.

Một loạt câu hỏi được đặt ra là tại sao phải M&A? M&A thì được những lợi ích gì? M&A có dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp? M&A có giảm lương và phúc lợi không? M&A phải chăng chỉ có lợi cho cổ đông và gây bất lợi cho các thành phần khác? Và một loạt các câu hỏi nan giải khác.

Để giải quyết các câu hỏi này, không có cách nào khác là doanh nghiệp phải có chiến lược và kế hoạch Internal Marketing (tiếp thị nội bộ). Ngày nay có rất nhiều công cụ hỗ trợ cho Internal Marketing từ truyền thống đến hiện đại ví dụ như: bản tin nội bộ, họp mặt nhân viên, báo cáo định kỳ, website, mạng nội bộ, mạng xã hội, khảo sát nhân viên, v.v…

Nhìn ở góc độ sản phẩm, khách hàng và thị trường, sản phẩm của M&A là một tổ chức, do vậy các khái niệm như phân khúc, thị trường mục tiêu và định vị (STP) và hỗn hợp tiếp thị Marketing Mix (4P dành cho sản phẩm và 7P dành cho dịch vụ) vẫn có thể áp dụng một cách hiệu quả.

Một thuật ngữ thường thấy trong các tổ chức tài chính và M&A là Investor Relations (Quan hệ nhà đầu tư). Nếu doanh nghiệp chỉ chú trọng đến nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp trong các thương vụ, vậy số phận các đối tác khác sẽ đi về đâu?

Do vậy, để thương vụ M&A thật sự hiệu quả và có chất lượng, không thể chỉ nhìn ở góc độ tài chính, tổng giá trị của thương vụ, sự vừa lòng người mua kẻ bán, mà còn phải xem xét ở các góc độ khác mà marketing là một góc nhìn không thể thiếu.

Mặt khác, M&A có thể diễn ra giữa hai công ty đã từng là đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành, do vậy sẽ có những xung đột về sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, chiêu thị, con người, quy trình và hạ tầng cũng như văn hóa giữa hai doanh nghiệp. Tất cả các yếu tố này đều là các thành phần của marketing hiện đại. Vậy nếu không đề cập đến marketing trong quá trình M&A rõ ràng là một thiếu sót rất lớn.

Ở một góc nhìn khác - định vị thương hiệu sau M&A. Định vị thương hiệu là một quá trình tìm ra điểm đặc trưng / khác biệt của thương hiệu so với đối thủ cạnh tranh và truyền thông vào tâm trí khách hàng. Để chiếm giữa tâm trí, con tim và tâm hồn khách hàng là một quá trình lâu dài và kiên nhẫn. Vậy sau khi M&A, khi 2 thương hiệu sẽ đã sáp nhập, sẽ phải định vị như thế nào trong tâm trí khách hàng để định vị vẫn còn hiệu quả, vẫn tiếp tục gia tăng giá trị thương hiệu, mang lại lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận dài hạn cho doanh nghiệp?

Về góc độ khách hàng, người Việt Nam có tiếp tục tinh thần Việt khi ăn phở 24 không khi biết rằng thương hiệu này bây giờ là của Highland Coffee và Jolibee? Người Việt Nam có tiếp tục ủng hộ Diana hay không khi chủ sở hữu của nó là Unicharm của người Nhật? Một số giá trị thương hiệu chắc chắn sẽ bị tác động không nhỏ. Chính vì vậy cần phải xem xét các thành phần của marketing.

Khi bàn về những vấn đề chính trong M&A, chuyên gia John Ditty đại diện cho KPMG đã đề cập đến 3 vấn đề lớn là: Thách thức quy mô thị trường, mức độ cạnh tranh / định vị, và viễn cảnh thị trường trong tương lai. Cả 3 vấn đề này đều là vấn đề quyết định, có liên quan mật thiết với chiến lược marketing của doanh nghiệp.

Trong hầu hết các loại hình kinh doanh trong nền kinh tế thị trường tự do, khách hàng là trung tâm trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thể tồn tại nếu không có khách hàng. Định hướng marketing là định hướng dựa trên việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng và đề xuất những giải pháp làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu các thương vụ M&A không quan tâm đến marketing, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp ngày càng ra rời khách hàng, mà chỉ quan tâm đến góc độ tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu như các bên tham gia vào quá trình quản trị công ty (gồm shareholders và stakeholder) hài hòa các giá trị, trong đó có vai trò không nhỏ của khách hàng. Nếu có sự quan tâm đúng mức về vai trò của marketing, tập trung vào khách hàng và tích hợp các công cụ marketing nội bộ và marketing bên ngoài, tin chắc các thương vụ M&A sẽ hiệu quả hơn và đi sâu vào chất lượng phát triển bền vững hơn là chỉ đạt được lợi ích về giá trị trong ngắn hạn. Bởi xét cho cùng, khách hàng vẫn là người quyết định số phận của doanh nghiệp.

Nếu khách hàng cảm thấy họ không được quan tâm đúng mức và không hài lòng với các giải pháp của doanh nghiệp thì dẫu có M&A, doanh nghiệp cũng không thể giành được chiến thắng.

Trong marketing có một nguyên tắc là “Chiến thắng kẻ thù thì luôn luôn dễ dàng hơn so với chiến thắng khách hàng”. M&A có thể giúp bạn xâm nhập vào thị trường sâu rộng hơn, cũng có thể giúp bạn thâu tóm đối thủ, tuy nhiên nó không thể giúp bạn chinh phục khách hàng và thị trường nếu không có sự đầu tư đúng mức vào chiến lược marketing.

Theo DNSG - Nguyễn Đăng Duy Nhất
MBA. Nguyễn Đăng Duy Nhất  – Chủ tịch CMO Council Worldwide tại Việt Nam, CEO Global Elite Consulting Corporation

Friday, June 29, 2012

Tạo khác biệt từ việc "cho đi"

[Marketing3k - Ý tưởng] Tại dạ tiệc từ thiện “Scar of life 3” do nghệ sĩ Ngô Thanh Vân và Quỹ Nhịp Tim Việt Nam tổ chức hồi cuối tháng 5, gian hàng Grace’s Cookies gây sự chú ý vì slogan “Cookies that save children” (Bánh cookie cứu mạng trẻ em). Margot Richart - người phụ nữ tạo ra loại cookies này đã cùng các tình nguyện viên đóng góp 42.000 USD để cứu 42 trẻ em bị bệnh tim, trong ba năm gần đây.

Margot nhẩm tính, bà cùng các tình nguyện viên đã tạo ra khoảng hơn 20.000 chiếc bánh cookies để có được số tiền đó. Có ba loại bánh khác nhau, mỗi bánh nặng vài gram, được bỏ vào gói plastic trong suốt, bán đồng giá 25.000 đồng/gói.

Bánh to thì mỗi gói một bánh; bánh vừa thì hai, và bánh nhỏ thì ba bánh một gói. Có khi Margot ước lượng nhu cầu và đem bánh bỏ cho ba shop ở An Phú (quận 2), hoặc bán ở các hội chợ hàng xôn địa phương (bazaar), bán trong các trường học. Cũng có khi người mua tự gọi đến đặt hàng.

Margot kể, bà có đơn hàng hằng tháng, mỗi tháng 25 gói bánh cookies, và bà thường tự đi giao hàng. Còn thông thường, bà bán khoảng 200-400 cái trong các bazzar. Đơn hàng “khủng” lớn nhất Grace’s Cookies có được là từ Trường AIS (Trường quốc tế Hoa Kỳ), với 2.400 cái một lần.

Việc bán bánh cookies không dễ dàng vì đây là bánh tươi, ăn ngon nhất trong tuần đầu tiên sau khi ra lò. Nên bà không bao giờ giao cho khách những chiếc bánh đã làm được 3 ngày mà vẫn “nằm nhà”.

Những nỗ lực thầm lặng và kiên trì của những trái tim ấm tình thương đã được tích lũy, được nhân lên bởi những người phụ nữ nước ngoài từ tâm như Margot. Họ đóng góp thời gian, vật dụng, công sức, máy móc, điện nước, chỉ lấy lại chi phí nguyên vật liệu mà thôi.

Nhờ vậy, 80% doanh thu từ những chiếc bánh nhỏ bé ấy được chuyển tới Quỹ Nhịp Tim Việt Nam của VinaCapital Foundation. Nhờ thế, 42 em bé bị bệnh tim đã được cứu sống. 

Những chiếc bánh “ân sủng”

Các loại bánh cookies do nhóm của Margot Richart làm

Tại sao lại là bánh cookies, và tại sao lại là Gracescookies, thưa bà?

- Đó là một câu chuyện dài, bắt đầu từ việc quyên góp cho một em bé Việt Nam bị bệnh tim trong cộng đồng “xóm giềng” của chúng tôi cách đây hơn ba năm.

Lần đầu tiên khi chúng tôi quyên góp thì mọi người rất hào hứng đóng góp, khi biết chắc cậu bé bệnh tim nặng sẽ ra đi nếu không đủ tiền cứu chữa. Và chúng tôi quyên góp đủ để chữa bệnh cho hai em bé.

Từ sự hứng khởi đó, chúng tôi tiếp tục đề nghị mọi người quyên góp nhiều tiền hơn nữa để cứu sống thật nhiều em bé. Nhưng điều kỳ lạ là... không ai đóng góp thêm!

Thất vọng, nhưng dần dần chúng tôi nhận ra, nếu có quá nhiều đề nghị quyên góp, mọi người sẽ cảm thấy nhiều quá, hoặc nếu chỉ nói quyên góp cho các em bé chung chung thì họ cũng không có động lực để làm việc thiện.

Thế là tôi nung nấu việc làm ra sản phẩm gì đó để mọi người vừa mua được, vừa làm việc thiện được. 

Chúng tôi từng nghĩ đến đồ lưu niệm thủ công, nhưng ở đâu cũng thấy chúng cả. Nhận định rằng, sản phẩm làm ra phải có chất lượng cao, giá không đắt lắm để dễ mua nhiều lần, rồi phải để người ta mua một cách tình cờ, và phải có tính độc đáo của sản phẩm “làm tại gia”. Nhưng nghĩ mãi vẫn chưa ra.

Tình cờ, trong chuyến đi Singapore cùng gia đình, tôi thấy cửa hàng bánh cookies từ Hoa Kỳ - quê hương tôi. Rõ ràng nó chưa có ở Việt Nam. Và thế là tôi quyết định... 

Grace là tên một người dì của tôi, dì cũng gửi tôi những chiếc bánh cookies khi tôi đang học đại học. Grace cũng có nghĩa là “ân sủng”. 

Gracescookies có hương vị khá đặc biệt. Bà có thể tiết lộ “bí kíp” để có loại bánh này?


- Quả thật Grace’s Cookies có chất lượng rất tốt, được làm từ các nguyên vật liệu rất rất tốt. Cũng là những nguyên liệu cơ bản như đường, bơ, trứng và một số nguyên liệu bí mật.

Công thức của Grace’s Cookies được “biếu tặng” cho từ thiện nên chúng tôi không thể tiết lộ được. Để có được công thức này, chúng tôi đã phải thử rất nhiều loại cookies để tìm ra loại bánh nào vừa ngon vừa có giá dễ mua.

Thực khách mua cookies vừa có loại bánh tuyệt hảo để ăn, vừa đóng góp để cứu trẻ em bệnh tim, vì 100% lợi nhuận từ việc bán bánh được đóng cho quỹ Quỹ Nhịp Tim Việt Nam. Một trong hai điều đều tuyệt cả, phải không? 

Nhiều khách hàng khen ngợi hình ảnh Gracescookies dễ thương, cuốn hút... Chúng tôi phải cảm ơn ông Matt Millard từ Công ty PurpleAsia đã đóng góp các dịch vụ sáng tạo tương đương với 10.000 USD như: tạo logo, thiết kế brochure, thiết kế trang web, banner, stickers... - những hình ảnh rất quan trọng đối với Grace’s Cookies. 

Vậy tại sao lại chọn Quỹ Nhịp Tim Việt Nam để đóng góp, thưa bà? 

- Chúng tôi không có đủ thông tin để tìm đúng bệnh nhân, bệnh viện, nên cần phối hợp với một tổ chức nào đó. Quỹ Nhịp Tim Việt Nam có quan hệ tốt với các bệnh viện và có mạng lưới rộng khắp để có thể tìm đúng bệnh nhi.

Chúng tôi hoàn toàn yên tâm khi gửi tiền quyên góp vào Quỹ Nhịp tim Việt Nam, vì biết rằng 100% số tiền này sẽ đến các trẻ em bệnh tim. Tôi nhớ mãi cậu bé thứ 35 mà chúng tôi hỗ trợ.

Em gặp vấn đề tim rất nặng, nên cuối cùng vẫn “ra đi” sau ca mổ. Giây phút đau đớn nhất, bố của cậu bé vẫn nói “Xin cảm ơn vì đã cho con tôi một cơ hội”.

Chứng kiến cảnh này, tôi có một sự rung cảm sâu xa. Nó tạo cảm hứng cho chúng tôi tiếp tục công việc tìm cơ hội cho các em thiếu may mắn.

Nỗ lực sẽ được đền đáp


Đâu là thử thách lớn nhất của Grace’s Cookies thưa bà?

- Chúng tôi chỉ là một nhóm nhỏ với một số tình nguyện viên. Mỗi tình nguyện viên lại có những công việc khác nhau nên khá khó khăn để có thể tập trung đủ người nướng bánh hoặc bán bánh trong một sự kiện đặc biệt.

Chúng tôi mong có thể trở thành một tổ chức chính thức. Tuy nhiên lúc đó phải đầu tư rất nhiều vào nhà bếp, máy móc, thiết bị... Nên điều mà chúng tôi đang mơ ước là tìm được một nhà hàng nào đó có thể hợp tác tài trợ gian bếp cho chúng tôi. 

Nhân dịp này tôi cũng cảm ơn rất nhiều tình nguyện viên đã “đồng cam cộng khổ” với tôi trong nhiều năm qua. Nổi bật trong số đó có bà Stefanie Bratner từ Đức, bà Yolande Yong từ Malaysia phụ trách chocolate chip, bà Evelyne Kobberger cũng từ Đức chuyên về bánh glazed sugar, còn bà Regina Tay từ Singapore làm bánh chocolate chip và shortbread.

Bà Retha van Niekerkt từ Nam Phi ngoài nướng và bán bánh còn làm cả công việc kế toán. Còn bà Antoinette Kattan từ Thụy Sĩ giúp quyên góp và nướng bánh. Và nhiều tình nguyện viên khác nữa... 

Có thể thấy bà đã khá hài lòng với Grace's Cookies. Bà có niềm vui nào khác muốn chia sẻ nữa không? 

- Tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi được mời đến trình bày ở một trường quốc tế trước các em học sinh cấp một, cấp hai về đề tài “Giving and helping” - “Cho đi và giúp đỡ”.

Chúng tôi cũng tổ chức các chuyến thăm trẻ em cần mổ tim, để các em học sinh thấy rằng mình có thể tạo ra sự khác biệt một cách dễ dàng.

Các em cũng thấy được nếu không có sự hỗ trợ của cộng đồng thì những trẻ em nghèo bệnh tim có thể ra đi bất cứ lúc nào. Sự hưởng ứng nhiệt tình của các em làm tôi rất cảm động.

Có những em lớp 1, lớp 2 đi bán bánh cookies để quyên góp cho bạn bị bệnh tim. Có em còn biết bán cho các bạn của mình nhân Ngày của Mẹ 13/5.

Tôi nghĩ rằng, trong các em đã có sẵn tình yêu thương đối với những người bất hạnh, nhất là với các bạn đồng trang lứa, nên khi có dịp phù hợp là tình cảm ấy được thể hiện rất rõ. 

Bà có thể chia sẻ một chút về cá nhân mình?


- Tôi đến từ New Orleans, Louisiana, Hoa Kỳ. Thành phố New Orleans của chúng tôi giống TP.Hồ Chí Minh ở chỗ cả hai đều cổ và có lịch sử dưới ách đế quốc Pháp.

Nơi đây cũng sản sinh ra Jazz Music mà các bạn thường nghe. Con người thì dễ thương, thân thiện và dễ tiếp xúc. Chỉ có điều, TP.Hồ Chí Minh rộng hơn nhiều và đang thay đổi từng ngày.

Tôi nghĩ mình đã may mắn khi có cơ hội sống ở cả hai nơi như vậy. Tôi cùng gia đình mình đã sống ở đây 5 năm.

Câu tục ngữ yêu thích của tôi là “Trying counts - Nỗ lực sẽ được đền đáp”. Nếu chịu thử, bạn sẽ ngạc nhiên trước những điều bạn có thể đạt được.

Thậm chí nếu không thành công, bạn cũng có cảm giác hài lòng vì mình đã nỗ lực. Điều quan trọng đối với tôi là tôi đã tạo được sự khác biệt từ việc “nhận rồi cho đi”. 

Cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!

Theo DNSG - Bùi Thị Song Hà