Sunday, October 2, 2011

Loạn trường đại học: Chỉ tiêu dân trí hay nhu cầu nhân lực?

Việc đào tạo là một lẽ, nhưng quan trọng hơn 
là làm sao phân bổ đến được đúng nơi có nhu cầu
.Ảnh minh hoạ. Ảnh: Trung Dũng
[Marketing3k.vn] Việt Nam hiện nay có bao nhiêu trường đại học? Không mấy ai trả lời được chính xác, có thể là 450 hay 470, và con số này luôn bị thay đổi vì một tháng có thêm hai trường đại học mới, một năm có thêm ít nhất là 17 – 20 trường. Con số này cũng không chính xác nốt.

Đặc biệt là trong khoảng thời gian gần mười năm trở lại đây việc lập đại học trở thành phong trào rầm rộ như thành lập hợp tác xã nông nghiệp trước đây.

Chúng ta đang chứng kiến một thảm cảnh chỉ có duy nhất ở Việt Nam, là các trường cạnh tranh nhau không phải bằng chất lượng mà bằng các mánh lới chèo kéo người học, tung ra các chiêu thức hệt như các quán ăn đường phố như tặng tiền, đồng phục, hạ điểm đầu vào đến mức 7 điểm cũng trở thành sinh viên... Các chuyên gia nước ngoài họ hoàn toàn không hiểu điều gì đang xảy ra với một dân tộc có tuổi đời khởi xướng đại học vào loại lâu đời nhất nhì trên thế giới.

Trước đây đại học tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn thì nay tỉnh nào cũng có đại học (có lẽ trừ Dăk Nông mới thành lập là chưa có) có tỉnh đến bốn, năm trường đại học. Có trường mới toanh còn thơm mùi sơn nước, nhưng số trường nâng cấp từ cao đẳng, trung cấp, trường nghề, trường chính trị, trung tâm đào tạo thường xuyên lên đại học thì nhiều vô kể, nhiều đến mức có những trường đại học mà người có thâm niên giáo dục 30 – 40 năm khi được hỏi ngơ ngác không biết nó nằm ở đâu, đào tạo lĩnh vực nào, ai là hiệu trưởng.

Không biết có phải vì lý do dễ kiếm ăn hay không mà việc lập đại học thành một phong trào mạnh mẽ, không chỉ tỉnh huyện, bộ ngành mà cả các tập đoàn kinh tế, công ty đều nhảy vào cuộc. Nếu một tổng công ty xây dựng, bất động sản, truyền thông, công nghệ thông tin, khai thác khoáng sản có máu mặt mà chưa có đại học thì chưa được coi là sang trọng. Nếu một ngày nào đó đại học Việt Nam lập lại trật tự nhờ có quy luật “mạnh được, yếu thua” và được điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường thì cũng không phải là quá tệ, nhưng như thế thì thật là quá nhẫn tâm với những người nông dân cắm mặt xuống bùn kiếm từng đồng xu lẻ mà đặt trọn niềm tin vào những trường đại học dở trường dở chợ như thế.

Tại sao lại phải cho ra nhiều trường đại học ồ ạt như thế? Chúng ta thử lý giải hiện tượng này và xem xét hệ quả của nó ra sao?

Cái lý của người cấp phép là làm sao trong thời gian ngắn phải nâng số sinh viên trên 10.000 dân ngang bằng với các nước tiên tiến xung quanh, như thế mới đáp ứng được mục tiêu năm 2020 trở thành nước công nghiệp, điều này cũng diễn ra trong việc đào tạo tiến sĩ làm sao phủ kín trong các cơ quan công quyền và giáo dục với chỉ tiêu đào tạo mới là 20.000 tiến sĩ. Hiện nay số sinh viên/10.000 dân của Việt Nam là khoảng 200 đến 220, trong khi các nước như Thái Lan, Philippines, Malaysia là 400 đến 450, Hàn Quốc và Singapore là 500 đến 600. Bộ Giáo dục và đào tạo muốn nâng số sinh viên/10.000 dân bằng Thái Lan, Malaysia hôm nay là 400 vào năm 2025. Đó là một ý tưởng hay, nhưng chưa chắc đã hợp lý. Bởi lẽ:

Giống như cơ thể con người, cơ thể kinh tế của một quốc gia chỉ có thể dung nạp một lượng nhân lực có trình độ ở một mức độ nào đó. Việc sản xuất ra bao nhiêu kỹ sư, cử nhân, kiến trúc sư, nhà quản lý là tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế của xã hội trong mỗi giai đoạn chứ không phải xuất phát từ việc nhìn xem các nước láng giềng và lại càng không nên xuất phát từ trí tưởng tượng bay bổng của một vị lãnh đạo tỉnh (cho dù là với động cơ cực kỳ trong sáng) rằng tỉnh kia có đại học văn hoá, đại học công nghệ thông tin thì có lý do gì mà mình lại không có, trong khi đào tạo ra không biết để làm gì. Thuốc bổ là cần, nhưng uống nhiều quá cũng sinh bệnh mà chết.

Việc đào tạo là một lẽ, nhưng quan trọng hơn là làm sao phân bổ đến được đúng nơi có nhu cầu. TP.HCM có đến hàng trăm, thậm chí là cả ngàn bác sĩ tốt nghiệp nhưng có đi làm hết không? Nhiều ngành khác như sư phạm, hành chính, các ngành khoa học xã hội tốt nghiệp xong cứ quanh quẩn ở 14 quận nội thành TP.HCM. Tình trạng này cho thấy xã hội không thiếu nhân lực trình độ cao, có nhiều ngành thừa rất nhiều mà do chưa có chính sách tốt cho nên không thu hút được nhân lực và như vậy mở ra càng nhiều trường đại học đồng nghĩa với việc hàng tồn kho ngày càng nhiều, lãng phí cho xã hội và cho chính mỗi gia đình.

Không ít những vị chức sắc cho rằng việc đào tạo ra nhiều cử nhân, kỹ sư nếu không kiếm được việc làm thì bề nào cũng vẫn tốt, vì như thế là góp phần nâng cao dân trí, đào tạo con người. Điều này không sai, nhưng trình độ phát triển và mức sống của đại đa số người dân chưa đến mức “học chơi”.

Lên đại học quá dễ dù “phải theo tiêu chuẩn”, nhưng để có những tiêu chuẩn thì không có gì khó, chỉ cần một cô thư ký ngồi một buổi trước máy tính là sẽ có tất tần tật. Vậy là chẳng mất gì, chỉ cần tăng thêm một năm nếu là cao đẳng ba năm, còn đội ngũ thầy cô giáo, cơ sở vật chất vẫn vậy (nếu thiếu thì thuê mượn đỡ ở đâu đó), có khác chăng là thay cái bảng treo ở trước cổng trường. Nhưng vấn đề không đơn giản như thế. Khi các anh, chị học trung cấp, cao đẳng thì còn chấp nhận các công việc phổ thông, kể cả việc lao động nặng nhọc, chân lấm tay bùn… nhưng khi có tấm bằng đại học, giờ là “ông kỹ sư, bà cử nhân” giải quyết được sĩ diện thì bắt đầu chê việc. Ở một tỉnh nọ của đồng bằng sông Cửu Long có trường trung cấp tài chính, khi xưa tốt nghiệp xong người học vui vẻ về xã, huyện làm việc nhưng nay lên đại học chả ai chịu về xã nữa. Đó là hậu quả của việc gán nhãn mới màu mè chất lượng cao lên chai nước mắm có độ đạm vẫn thế. Nếu đọc trong bất kỳ lời giới thiệu nào của các trường dân lập đều có câu “văn bằng cấp nằm trong hệ thống văn bằng của bộ Giáo dục và đào tạo và Nhà nước Việt Nam” như là một sự bảo chứng cho nhãn hiệu.

Rất nhiều vị quản lý nhà nước cho rằng việc bùng nổ đại học rồi dẫn đến phá sản như đã diễn ra trong thị trường bất động sản là điều tốt và là cơ hội thanh lọc đại học. Đúng là điều này đang xảy ra với nhiều khoa bị giải thể vì không có sinh viên, nhưng không dễ gì với trường. Việc lập ra đã khó, nhưng giải thể có khi còn khó hơn, bởi đó là “tâm huyết” là “lòng yêu dân tộc” của các vị sáng lập và càng khó hơn vì động chạm đến lợi ích nhóm, thậm chí lợi ích gia đình. Thực tế không ai mở trường học với tuyên ngôn để kiếm tiền mà là phục vụ đất nước, nhưng có một thực tế ai cũng thấy một thời kinh doanh giáo dục là kinh doanh an toàn nhất, vốn ít nhất mà lời cũng bộn nhất. Chỉ cần mướn được mặt bằng là có thể chiêu sinh được, thầy đi mời bên ngoài miễn trả giá cao hơn công lập sau đó phát triển với phương châm “lấy mỡ nó rán nó”.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước, khi bà nội tôi còn sống, bà tôi vẫn làm bánh cuốn ra chợ phiên đầu làng bán, mỗi phiên bà chỉ làm có chừng 30 cái, tôi hỏi sao bà không làm nhiều hơn, bà nói ở cái làng này những người có được một, hai xu mua bánh cuốn đâu có bao nhiêu mà làm nhiều, làm nhiều lại ế mang về. Những người nông dân ở cái làng quê bé tẹo chả được học quy luật cung cầu thế mà họ cũng biết sản xuất ra cỡ nào thì vừa, sao quan chức chúng ta nhiều tiến sĩ, giáo sư thế mà vẫn tính hớ mới lạ chứ.

Ai là người chịu trách nhiệm trả lời trước nhân dân? Rồi ai đó sẽ nói rằng lịch sử sẽ phán xét? Nhưng than ôi không phải đợi đến mai sau mà ngay hôm nay con cháu chúng ta đang phải trả giá cho những quyết định “khó hiểu” này.
--------------------------------
Cơ thể kinh tế của một quốc gia chỉ có thể dung nạp một lượng nhân lực có trình độ ở một mức độ nào đó. Việc sản xuất ra bao nhiêu kỹ sư, cử nhân, kiến trúc sư, nhà quản lý là tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế của xã hội trong mỗi giai đoạn chứ không phải xuất phát từ việc nhìn xem các nước láng giềng để phấn đấu cho bằng.
--------------------------------
Theo SGTT- TS Nguyễn Minh Hoà

7 Xu hướng nổi bật của Tiếp Thị trực tuyến năm 2011

[Marketing3k.vn] Xu hướng tiếp thị trực tuyến năm 2011 tăng cường về kết nối, hiển thị và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Tiếp thị trực tuyến sẽ yêu cầu cao hơn tiếp thị chỉ qua mạng xã hội. Hơn nữa, cách tiếp cận đa chiều là điều cần thiết để đạt được mục tiêu, khiến cho các nhà tiếp thị phải sử dụng hỗn hợp tất cả các hình thức của marketing.

7 xu hướng chủ đạo của tiếp thị trực tuyến 2011

1. Tiếp thị mạng xã hội trở thành xu thế chính. Trong năm 2011, các công ty sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để đạt đến “điểm bùng phát” (tipping point). Doanh nghiệp sẽ trở nên tinh vi hơn trong việc sử dụng mạng truyền thông xã hội để tiếp thị và cũng có nhiều kinh nghiệm hơn. Là một phần trong tiến trình bùng phát ấy, truyền thông xã hội được các tổ chức sử dụng rộng rãi, chủ yếu là các tổ chức thuộc ngành dịch vụ khách hàng. Quảng cáo bằng truyền thông xã hội với đặc tính riêng sẽ mang lại hiệu quả tương đối lớn tương đương các kiểu quảng cáo mới, phần lớn là do khả năng lôi cuốn khách hàng mục tiêu dựa trên hoạt động mạng xã hội

Internet marketing

Một thách thức cho tiến trình tiếp thị mạng xã hội đó là Facebook, Twitter và các Công ty dịch vụ mua chung (Groupon) có thị phần lớn đang tiềm tàng tín hiệu “bong bóng”.

2. Các hãng di động “chạy đua”: Trong khi từ lâu sự các hãng di động của Mỹ tiếp cận tới tất cả người dùng thì năm 2011, sẽ mở đường cho nhiều thay đổi quan trọng trong tiếp thị. Với sự ra đời những điện thoại thông minh đã khiến tỷ lệ phần trăm sử dụng điện thoại của các hộ gia đình gia tăng, hay nói cách khác là thị trường Mỹ đã tạo ra sân chơi cân bằng cho Tiếp thị di động. Dữ liệu nghiên cứu gần đây của Công ty Nielsen cho thấy 30% điện thoại di động là các sản phẩm thông minh và tài khoản điện thoại BlackBerries chiếm gần ¼.

Internet marketing

Cùng với tiêu dùng, mua sắm mọi lúc mọi nơi, dùng email là một hoạt động chiếm ưu thế của người dùng di động. Mỗi người dùng di động tải về máy trung bình 27 ứng dụng.

Công ty nghiên cứu thị trường Forrester dự đoán 75 % số người làm tiếp thị sẽ đưa tiếp thị di động vào trong kế hoạch tiếp thị hỗn hợp của mình. Dựa trên sự tăng trưởng của email di động và số ứng dụng trung bình được download, việc tập trung vào các ứng dụng tương tác trên điện thoại sẽ đáp ứng nhiều hơn nữa nhu cầu “mọi lúc mọi nơi” của người tiêu dùng

Nếu xét về tiêu dùng tính theo dung lượng và tìm kiếm trên di động, kết quả là những dịch vụ của nội địa như Foursquare sẽ tiếp tục được mở rộng (so với gã khổng lồ Facebook)

3. Tiếp thị nội dung với bước tiến mới: Các thiết bị di động khác như dụng cụ đọc điện tử và iPads sẽ là những thiết bị khởi xướng cho tiếp thị nội dung. Công ty eMarketter ước tính Ipad của Apple đã bán được 8.500.000 chiếc.

Trong khi đó Amazon đã bán được 8 triệu sách điện tử Kindle - thiết bị đọc sách bán chạy nhất mọi thời đại. Và đây cũng là tin tốt cho các nhà xuất bản, bởi người dung các thiết bị này sẽ phải trả tiền cho nội dung bên trong nó. Những thiết bị này khiến các nhà tiếp thị phải nghĩ đến hành vi tiêu dùng nội dung trong mục tiêu thị trường của họ.

Khoảng 2/3 lượng người tiêu dùng phải trả phí các nội dung online (thống kê của Pew Research Center's Internet & American Life Project). Các ứng dụng mềm phải trả phí gồm có nhạc online, phần mềm, điện thoại di động, ứng dụng máy tính bảng, game, tin tức, báo cáo, video, phim hoặc chương trình truyền hình. Nhưng trước khi các nhà sản xuất nội dung gom được tiền về ngân hàng của mình thì họ phải cân nhắc cẩn thận giữa giá trung bình 47 USD của nội dung số so với giá 10 USD mà thông thường khách hàng vẫn chi tiêu.

4. Tiếp thị đi vào thực tế chứ không chỉ làm chức năng theo dõi cho công việc PR và khủng hoảng tiềm tàng.
Các nhà tiếp thị phải cảnh giác để tận dụng cơ hội tiếp thị mà vẫn giảm nhẹ tác động của vụ “bê bối” nhỏ (ví dụ, Ford sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để “dập tắt” một vụ bê bối PR). Những tình huống như thế này đòi hỏi phải có một chiến lược quảng cáo và truyền thông linh hoạt hơn, và phải được tiến hành nhanh gọn bởi các sự kiện không thể được lên kế hoạch sớm sáu tháng trước. Về lâu dài, mỗi công ty phải có kế hoạch quản lý khủng hoảng và giám sát thận trọng.

5. Bán lẻ trực tuyến tiếp tục bị các kênh khác chiếm thị phần: Dịp Giáng sinh 2010 cho thấy người tiêu dùng bất chấp viễn cảnh tài chính khó khăn, sẵn sàng bỏ tiền, chi tiêu để thoả mãn các nhu cầu cao (như mua sắm trị liệu).

Mua sắm trực tuyến vào các kỳ nghỉ rộ lên, chia sẻ lan truyền từ cửa hàng bán lẻ, cho thấy sự sẵn lòng của người tiều dùng trong việc sử dụng và tin tưởng và các phương pháp thanh toán trực tuyến.

Trong khi một tỷ lệ rất nhỏ trong doanh số bán hàng ngày lễ, mua sắm trên mạng xã hội sẽ tiếp tục mở rộng ảnh hưởng của nó do khả năng nhắm đúng mục tiêu và tiếp cận người tiêu dùng sớm trong giai đoạn quyết định mua sắm. Ngoài ra, nhóm mua qua Groupon và đối thủ cạnh tranh sẽ tiếp tục là một xu hướng tiêu dùng ngày càng gia tăng khi các nhà tiếp thị có thể kiếm tiền từ các chương trình khuyến mãi

6. Thời đại của marketing hỗn hợp: Bằng các chiến dịch tiếp thị mạng xã hội lớn mạnh năm 2010, ví dụ như chiến dịch “Đã quá Sảng khoái” (Pepsi Refresh) hoặc Hương vị cũ (Old Spice) đã cho thấy sự cần thiết của việc phối hợp giữa các loại hình tiếp thị. Khi truyền thông xã hội mở rộng, thì toàn bộ các thiết bị như di động, thiết bị đọc điện tử và các tiếp thị phải phối hợp cùng nhau (trong đó truyền hình vẫn đóng vai trò chủ đạo).

7. Điểm nổi bật của truyền thông mạng xã hội là việc đo lường hiệu quả: Tương tự hình thức marketing truyền thống, truyền thông mạng xã hội cũng đòi hỏi sự cân bằng trong đầu tư như là hoàn thiện đầu tư ngân sách và nhân công. Để đạt được sự cân bằng này cần phải có cách đo lường, ưu điểm của mạng truyền thông xã hội và và cách tính ROI rõ rang, có thể thấy rõ nhất là thông qua theo dõi quảng cáo online vào kiểm tra hiệu quả thông qua mạng xã hội. Xa hơn nữa, các nhà tiếp thị phải liên kết lại và khuyến mãi để bán công cụ theo dõi quảng cáo.

Khi bạn lên kế hoạch cho năm 2011, hãy chú ý đến 7 xu thế marketing trên để hoạch định cho bước đầu. Lên kế hoạch cho những mục tiêu năm 2011, bạn cần phải có các biện pháp đo lường và có chiến lược tiếp thị di động cũng như mạng xã hội để đạt được sứ mạng công ty.
Heidi Cohen - Theo Kingbeemedia

Kinh tế Việt Nam: “Chìa khóa” giảm lạm phát

Nhiều gói thầu của đường Hồ Chí Minh đoạn qua
 Tây nguyên phải dừng thi công do chưa bố trí được vốn
 - Ảnh: NGUYỄN CHUÔNG - báo tuổi trẻ
[Marketing3k.vn] Là hai chính sách quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô nhằm mục tiêu phát triển ổn định và bền vững, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động qua lại với nhau và đến nền kinh tế. Chính sách tiền tệ chỉ có thể thành công nếu có sự phối hợp với chính sách tài khóa và ngược lại. Lý tưởng nhất là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ phải phối hợp đầy đủ với nhau và với các chiến lược kinh tế vĩ mô khác…

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu trong việc quản lý, điều tiết vĩ mô, đảm bảo cân đối thu - chi ngân sách nhà nước, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế bền vững...

Thực trạng...

Nền kinh tế VN trong những năm qua đã phát triển lên một tầm cao mới. Nhưng cùng với sự phát triển ấy là hiện tượng lạm phát cao và kéo dài, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức trung bình.
Lạm phát của VN hội tụ đủ các nguyên nhân: lạm phát vừa do cầu kéo, vừa do chi phí đẩy và vừa do lạm phát kỳ vọng; vừa có nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ, vừa có nguyên nhân từ yếu tố phi tiền tệ. Đặc biệt, nhiều nguyên nhân được tích lũy từ nhiều năm qua như: Mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, nhưng đầu tư lại kém hiệu quả nhất, là đầu tư công. Giá cả của nhiều mặt hàng như điện, xăng... được điều chỉnh tăng. Nới lỏng chính sách tiền tệ của những năm trước...

Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ trọng yếu trong việc quản lý,
điều tiết vĩ mô (Đồ thị: Diễn biến lạm phát của VN từ năm 2000 - tháng 8/2011)

Thực tế, lạm phát ở VN luôn vượt quá 1 con số kể từ năm 2007 đến nay (trừ năm 2009). Tính đến 9 tháng đầu năm 2011, CPI tăng 16,48% so với cuối năm 2010 cho thấy việc kiểm soát lạm phát cả năm khoảng 15-17% là khó khăn.

Việc VN được IMF đánh giá là thận trọng và phù hợp, sự phối hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài chính đã góp phần từng bước đưa VN vượt qua được giai đoạn đầy khó khăn của thời kỳ đầu gia nhập WTO, kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức tương đối cao (năm 2008: GDP 6,23%, năm 2009: 5,32%, năm 2010: 6,78%, 6 tháng/2011: 6,57%); hoạt động tiền tệ, ngân hàng nhìn chung ổn định, thị trường ngoại tệ, vàng, tỷ giá được kiểm soát phù hợp, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được trên thì còn có một số điểm chưa “tương thích” giữa hai chính sách:

Thứ nhất, chính sách tiền tệ phải theo đuổi quá nhiều mục tiêu và chưa có sự độc lập tương đối.

Trên thế giới, ở các nước có ngân hàng trung ương (NHTƯ) độc lập, NHTƯ được chủ động thực thi các công cụ của chính sách tiền tệ và bị cấm cho chính phủ vay không theo điều kiện thị trường, đồng thời phải có trách nhiệm giải trình trước Quốc hội và trước công chúng các quyết định của mình. Các nhà hoạch định chính sách tiền tệ phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng của chính sách tiền tệ, và không thể bị gây áp lực làm chính sách tiền tệ đi chệch hướng. Đối với một số quốc gia theo đuổi lạm phát mục tiêu, NHTƯ chỉ thực hiện mục tiêu duy nhất kiểm soát lạm phát... 

Ở VN, tại điều 10 của Luật Ngân hàng Nhà nước VN năm 2010 có quy định: “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ ”. Nhưng tại Khoản 1, Điều 4 theo Luật NHNN VN 2010 quy định: “Hoạt động của NHNN nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; đảm bảo sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, bên cạnh nhiệm vụ kiểm soát lạm phát, thì NHNN còn có nhiệm vụ to lớn khác là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế...

Thứ hai, phối hợp chính sách trong việc kiểm soát lãi suất, ổn định thị trường tiền tệ còn nhiều hạn chế và tồn tại.

Trong những năm qua, NSNN thường xuyên thâm hụt ở mức khá cao dẫn đến sức ép tăng lãi suất trong nền kinh tế thông qua tăng lãi suất phát hành trái phiếu chính phủ. Năm 2010, lãi suất trái phiếu Chính phủ có thời điểm còn cao hơn lãi suất huy động vốn của các TCTD, gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn của các TCTD, tạo sức ép tăng lãi suất, giảm tính hiệu lực của việc điều hành giảm lãi suất theo chủ trương của Chính phủ. Trên thực tế, Kho bạc nhà nước vẫn gửi tại NHNN ảnh hưởng lớn đến vốn khả dụng và khả năng thanh toán của NHTM.

Thứ ba, phối hợp chính sách trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho công tác dự báo mức lạm phát còn hạn chê.

Hiện nay, chưa thiết lập được cơ chế thông tin một cách thường xuyên về các dòng vốn của thu - chi ngân sách nhà nước và các định chế tài chính do Bộ Tài chính quản lý, dẫn đến chưa thống kê và kiểm soát được một tỷ lệ đáng kể phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Ngoài ra, thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong việc xác định mục tiêu dài hạn như dự báo mức lạm phát. Việc cố định mức lạm phát kế hoạch hàng năm, mà không đưa ra biên độ giao động hợp lý dẫn đến phải điều chỉnh nhiều lần, đã làm mất lòng tin đối với những cam kết đối với các nhà hoạch định chính sách.

Giải pháp cho tương lai

Trước mắt, cần tăng cường và hoàn thiện việc thu thập thông tin, phân tích thông tin và trao đổi thông tin để việc thông qua và thực hiện các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được chuẩn xác. Đây là khâu yếu nhất hiện nay, cần phải tăng cường sự phối hợp để đảm bảo các thông tin được cập nhật kịp thời; nhất là tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa NHNN và các bộ, ngành đặc biệt là với Bộ Tài chính trong việc công bố các số liệu quan trọng về thu - chi Ngân sách Nhà nước, các số liệu, chỉ số kinh tế vĩ mô để tiến hành lập dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm, xác định mức độ thâm hụt ngân sách... Từ đó, NHNN và Bộ Tài chính có những thông tin qua lại rất quan trọng và cần thiết trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, tăng sự nhất quán trong lập và điều chỉnh chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài khóa phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế.

Hơn nữa, thực tế cho thấy, để ổn định thị trường tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần được thực hiện theo hướng ổn định lãi suất, ổn định thanh khoản của hệ thống tài chính, phát triển các phân khúc của thị trường tài chính và phối hợp cung cấp thông tin. Để giúp ổn định thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng, Bộ Tài chính cần trao đổi thông tin kịp thời về dự kiến các khoản thu chi ngân sách, ngoài ngân sách; kế hoạch phát hành trái phiếu chính phủ hàng năm, hàng quý để làm cơ sở cho điều hành chính sách tiền tệ.

Ngoài ra, cần tăng cường sự phối hợp để thực hiện huy động nguồn bù đắp bội chi ngân sách, cũng như việc huy động huy động trái phiếu chính phủ cho các công trình giao thông thủy lợi trong thời gian tới, nhất là thời hạn huy động, hình thức huy động, lãi suất huy động, thời điểm huy động thông qua hình thức trao đổi, lấy ý kiến, để tránh diễn biến không có lợi trên thị trường tiền tệ, tác động xấu đến kinh tế vĩ mô.

Đồng thời, cần tiếp tục sự phối hợp để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính – ngân sách – tiền tệ để đảm bảo phù hợp với các thông lệ quốc tế, phục vụ quá trình hội nhập trong thời gian tới. Đặc biệt là cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt...

Đây chính là một trong những “chìa khóa” quan trọng nhằm kiểm soát lạm phát của VN.

Theo Lê Trang - Ngân hàng nhà nước/DĐDN
Các bài khác:

Hai mặt của nền giáo dục Việt Nam

Th.s Lê Xuân Trung, 
Hiệu trưởng trường THPT Vân Tảo
[Marketing3k.vn] Sau khi ANTĐ số 334 có bài: “Giáo dục Việt Nam: Lỗi hệ thống”, chúng tôi đã nhận được rất nhiều phản hồi của độc giả xung quanh vấn đề này.

Trong đó, có không ít thầy cô giáo đã chua chát thừa nhận: “Người ta bỏ tiền để xin điểm, đổi lại người ta coi thường nhân cách thầy cô sao mà trúng, mà đúng thế”. Những vấn đề bài báo nêu tuy phũ phàng, nhưng đã phản ánh thực tế nhiều mặt trái của ngành giáo dục hiện nay. Và chúng tôi đã bất ngờ nhận được đề nghị của Th.s Lê Xuân Trung, Hiệu trưởng trường THPT Vân Tảo (Thường Tín - Hà Nội) đề nghị được trao đổi, bàn luận, làm sáng tỏ thêm những vấn đề được coi là “góc khuất” của ngành giáo dục.

Theo thầy Trung, những vấn đề được coi là vấn nạn giáo dục hiện nay mà dư luận cũng như các phương tiện truyền thông hay nói tới thường chỉ nhìn ở khía cạnh tiêu cực với con mắt đôi khi có phần cay nghiệt và khắt khe. Chúng ta chê giáo dục đang bị đồng tiền làm vấy bẩn thiên chức thiêng liêng của nghề giáo, nào là mua – bán điểm, nào là lạm thu, lạm chi, bạo lực học đường, rồi cải cách, cải tiến thành cải lùi, chương trình quá tải, chất lượng giáo dục ngày càng xuống cấp…
Tất cả đều được quy chụp là do lỗi của ngành giáo dục. Nhưng cần phải nhìn nhận thực tế là bối cảnh xã hội bây giờ và trước đây khác nhau nhiều, thầy cô, học trò xưa và nay cũng khác… và nếu coi Nghị quyết 05/2005 của Quốc hội là định hướng phát triển giáo dục trong thời kỳ mới: xã hội hóa giáo dục nhằm tạo ra một thị trường giáo dục đáp ứng nhu cầu xã hội thì trong một chừng mực nào đó giáo dục đã trở thành một loại hàng hóa, mà đã gọi là hàng hóa thì có mua, có bán và sản phẩm của giáo dục là con người có kiến thức. Vậy thì có nên khắt khe quá không khi nói giáo dục đang bị đồng tiền hóa?

Phóng viên: Thưa thầy, theo thầy thì cùng với sự thay đổi bối cảnh xã hội, thầy cô, học trò xưa và nay cũng có thay đổi nhiều, vậy học trò bây giờ và so với 20 năm trước có gì giống và khác?

Th.s Lê Xuân Trung: Học trò lúc nào cũng vẫn là học trò. Chúng vừa thích học lại vừa thích chơi. Thế mới có câu “nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò”. Tuy nhiên, học trò trước kia “thuần” hơn chứ không “khó dạy” như bây giờ cả ở sự học lẫn sự nghịch.

Trước đây, thiếu thốn trăm bề, kiến thức thầy cô gần như là duy nhất, hiếm hoi lắm học trò mới có tài liệu khác để tham khảo, đối chiếu và nâng cao kiến thức. Cám dỗ xã hội, dịch vụ giải trí gần như không có nên cái sự học ngày đó cũng được tập trung hơn. Còn bây giờ thì học trò sẵn sàng phản biện với thầy cô trước những vấn đề cũ nhưng giờ có nhiều cách giải mới. Thậm chí, nhiều vấn đề thầy cô, sách vở đưa ra, học trò giờ nếu thấy không thỏa mãn là vào trang tìm kiếm Google, nơi được coi là ngân hàng kết quả chính xác nhất. Việc học cũng không còn được tập trung như trước khi hàng ngày xung quanh chúng là đầy rẫy những cám dỗ, những loại hình giải trí đang diễn ra bên ngoài xã hội khiến chúng lơ là. 

Ngày xưa, học trò sợ thầy cô, sợ nhà trường, nhưng bây giờ đôi khi thầy cô, nhà trường cũng “sợ” cả học trò. Thầy cô cũng là con người nên không tránh được những lúc sơ xuất và nếu không may bị học trò “tranh thủ” quay lén, ghi âm, chụp hình rồi tung lên mạng hậu quả lúc đó sẽ khó lường…

Chính vì những điều đó mà thầy cô bây giờ nhiều người không dám gần học trò, luôn cảnh giác, giữ khoảng cách không như ngày xưa quan hệ thầy trò gần gũi và ấm ấp. 

Phóng viên: Thế còn thầy cô bây giờ so với 20 năm trước thì sao?

Th.s Lê Xuân Trung: Với các thầy cô xưa tài liệu tham khảo, phương tiện giảng dạy thiếu thốn đâu được như bây giờ, nhưng ngược lại áp lực nghề dạy lại “nhàn” hơn. Bệnh thành tích có nhưng không “nặng” như ngày nay, không phải đảm bảo phổ cập tiểu học, rồi trung học; phương pháp dạy, chương trình dạy, lượng kiến thức ổn định, ít thay đổi… Bây giờ kiến thức, chương trình dạy… có khi mỗi năm mỗi khác, đòi hỏi thầy cô phải chịu khó tư duy, trau dồi kiến thức. Một số ý kiến cho rằng, thầy cô ngày nay nhiều khoản thu nhập có được hơn trước kia từ sự quan tâm của phụ huynh, học sinh, rồi mua bán điểm, dạy thêm, học thêm… Nhưng tôi nghĩ đây chỉ là thiểu số. Nước ta 80% là nông thôn, mà người nông dân thì lấy đâu ra tiền mà biếu thầy cô, nhiều nơi còn phải kêu gọi con em họ đi học thì lấy đâu ra mua bán điểm, lấy đâu ra dạy thêm, học thêm. Chúng ta mới chỉ nhìn thấy tiêu cực của giáo dục ở một số vùng có điều kiện phát triển kinh tế mà quy chụp cho toàn ngành giáo dục liệu thì liệu đã chuẩn xác chưa?

Nếu đi tìm cái sự giống nhau giữa thầy cô xưa và nay, câu trả lời là đồng lương chi cho thầy cô luôn nằm ở đáy so với mặt bằng thu nhập chung của toàn xã hội. Lương giáo viên trẻ mới ra trường bây giờ nói ra thì chua chát, không bằng cả lương người giúp việc. Tôi xin nêu ví dụ cụ thể về mức lương của giáo viên tốt nghiệp đại học mới ra trường có tổng thu nhập kể cả phụ cấp đứng lớp (30%) là 2.146.131 đống/tháng, đấy là đối với giáo viên đã được vào biên chế, còn đối với giáo viên hợp đồng thì bèo bọt được vài trăm nghìn. Trong khi lương người giúp việc tại các thành thị trung bình từ 2 – 2.5 triệu/tháng, thậm chí lên tới 3 triệu/tháng, không kể tiền thưởng, rồi ăn mặc, ở, đi lại, ốm đau, ... được bao cấp toàn bộ. Với mức thu nhập như vậy mà đòi hỏi người giáo viên yên tâm, chuyên tâm cống hiến với nghề thật khó lắm thay!

Còn rất nhiều giáo viên hy sinh quyền lợi của riêng mình vì sự nghiệp giáo dục

Phóng viên: Và vì lương giáo viên thấp nên để tăng thêm thu nhập, nhà trường phải nghĩ ra nhiều khoản thu, rồi tăng thu, rồi mở ra các lớp phụ đạo hết ca 2 lại đến ca 3. Bản thân thầy cô cũng tích cực mở lớp dạy thêm, học thêm ngay tại nhà mình?

Th.s Lê Xuân Trung: Ở đây có 2 vấn đề, thứ nhất là vấn đề mà dư luận vào đầu năm học hay nhắc tới là vấn đề lạm thu tại các trường. Tôi xin nói luôn, gía cả tăng, điện tăng, lương lao công, bảo vệ, nhiều khoản chi phí cho các hoạt động của nhà trường… mọi thứ đều tăng, đặc biệt yêu cầu của xã hội, của phụ huynh, học sinh đòi hỏi ngành giáo dục nói chung, nhà trường, thầy cô giáo nói riêng phải cho ra đời “sản phẩm giáo dục” là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập quốc tế khu vực và toàn cầu. Nếu chúng tôi không kêu gọi xã hội hóa giáo dục thì lấy đâu ra kinh phí để chi trả, để thực hiện nhiều hoạt động giáo dục toàn diện, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học. Trong khi ngân sách được duyệt cho giáo dục và mức thu học phí của học sinh có bao giờ tính tới sự trượt giá như ngành giao thông, xây dựng… 

Bản thân chúng ta cũng đang tự mâu thuẫn khi đòi hỏi, chất lượng giáo dục ngày càng phải nâng cao, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của xã hội, nhưng lại chỉ mong muốn số tiền đầu tư (bỏ ra) thấp. Với chi phí đào tạo giáo dục hiện nay, ngân sách Nhà nước mới chỉ đáp ứng điều kiện cần là mọi người đều được đi học chứ chưa đủ để gánh vác tất cả các chi phí cho việc phát triển toàn diện của học sinh.

Về vấn đề dạy thêm và học thêm hiện nay, có hay không việc mở các lớp dạy thêm chủ yếu với mục đích kiếm tiền? Xin nói thật, điều đấy là có. Lương giáo viên thấp, họ phải xoay xở, mà với nghề giáo, các thầy cô cũng chỉ có kiến thức trong tay để xoay xở. Nếu coi giáo dục là một thứ hàng hóa thì họ cũng chỉ biết “bán” kiến thức của mình để tăng thêm thu nhập chứ còn biết làm nghề gì khác. Xã hội lên án dạy thêm, học thêm tràn lan gây lãng phí tiền bạc, áp lực học hành cho học sinh và gia đình cũng có cái lý của họ, học sinh tiểu học, thậm chí “tiền tiểu học” trước khi vào lớp 1 mà cũng phải vác cặp đi học thêm thì đúng là phản cảm. Nhưng ngược lại, có học vẫn hơn. Không thể quy chụp hết cho rằng học thêm là xấu hết. Nếu học thêm với ý nghĩa trong sáng, thiết thực bổ ích, là nhu cầu chính đáng thì lại là cần thiết cho việc học. Thầy cô dạy tốt, môn học hay, được học trò yêu thích, thì phần lớn các em đều muốn được học thêm thầy cô ấy, môn học ấy… 

Phóng viên: Thực sự, theo thầy có cần học thêm?

Th.s Lê Xuân Trung: Bình thường thì không cần. Nếu đơn thuần đi học chỉ để lấy thành tích, lấy cái bằng mà không quan tâm tới cái nền kiến thức thì với mặt bằng kiến thức các kỳ thi bây giờ, chỉ cần chịu khó, nghiêm túc học tập trên lớp, ôn luyện bài ở nhà đầy đủ theo hướng dẫn của các thầy cô giáo là các em có thể tiếp thu kiến thức đầy đủ, dễ dàng. 

Phóng viên: Vậy thì câu hỏi đặt ra ở đây: đáp án là tiêu chuẩn kiến thức hay dùng để tính điểm?

Th.s Lê Xuân Trung: Đáp án vừa là tiêu chuẩn kiến thức, vừa là để tính điểm. Bởi cơ sở pháp lý để tính điểm là đáp án- điều này là nguyên tắc bất di bất dịch và đáp án cũng là một trong những cơ sở để đánh giá trình độ kiến thức của học sinh đúng hay sai, biết và hiểu đến đâu trước những yêu cầu kiến thức đặt ra thông qua từng câu hỏi, tửng bài tập ở mỗi môn học cụ thể. Có nhiều vấn đề yêu cầu kiến thức đặt ra không phải bao giờ đáp án “chuẩn” theo sách vở của ngành giáo dục là kết quả duy nhất, vì nhiều câu hỏi, bài tập có nhiều cách giải khác nhau nhưng về cơ bản đáp án vẫn là kết quả quan trọng nhất để đánh giá trình độ kiến thức của học sinh.

Phóng viên: Theo thầy, trong chương trình giáo dục hiên nay, học sinh đang thiếu cái gì?

Th.s Lê Xuân Trung Theo tôi, cái thiếu lớn nhất của học sinh hiện nay là niềm tin, kỹ năng sống và phương pháp học tập. Quan trọng hơn cả là chương trình giáo dục chưa cho học sinh phương pháp học tập, chưa quan tâm tới phương pháp tư duy. Trước đây đã có ý kiến nên đưa môn học logic hình thức vào chương trình phổ thông, nhưng không ai nghe cả. Tôi thấy rất tiếc!

Xin cảm ơn thầy!
Theo Hồng Vinh - Anninhthudo
Các bài khác:

Saturday, October 1, 2011

Xu hướng quảng cáo của thị trường Việt Nam năm 2011

Ảnh: Internet
[Marketing3k.vn] Bài viết chia sẻ một số nhận định và đánh giá về xu hướng phát triển của quảng cáo, một ngành đang đem lại lợi nhuận rất lớn, trên thị trường Việt Nam trong năm nay.

Nhìn lại thị trường quảng cáo của Việt Nam những năm gần đầy với nhiều biến động và thay đổi lớn sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Thời gian từ cuối năm 2009 đến cuối năm 2010 thì thị trường quảng cáo của VN mới thực sự trở lại cùng với nhiều chiêu quảng cáo mới. Thời gian này cũng đã đánh dấu những bước đi đột phá của các doanh nghiệp làm quảng cáo trong nước bằng việc bắt đầu dành được thị phần quảng cáo từ các công ty quảng cáo nước ngoài bởi các sản phẩm mang thương hiệu “Made in Vietnam” đầy sáng tạo.

Về cuối năm 2010 Ngân sách dành cho quảng cáo của các doanh nghiệp tăng theo từng tháng. Do sự phục hồi của kinh tế nó chung và chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển, mở rông quy mô của nhà nước ta cho cuộc chạy đua với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hàng hóa nhập khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thị trường thời hội nhập WTO đầy thách thức, thì hầu bao tiếp tục được mở chi cho quảng cáo để các doanh nghiệp nhanh chóng chiếm được thị phần trước khi quá muộn. Dự báo năm 2011 ngân sách cho quảng cáo của các công ty sẽ tiếp tục tăng, tăng mạnh từ 9 - 13% so với năm 2010 bởi sức ép ngày một lớn đến từ cánh cửa WTO.


Năm 2011 được nhiều người cho rằng đây là năm của nhiều loại hình quảng mới du nhập và nhiều cách tiếp thị quảng cáo độc đáo của các công ty quảng cáo. Để chứng minh được điều đó chúng ta hãy nhìn vào những gì các nhà quảng cáo đã làm trong năm qua, thử nhớ lại và quan sát bước đi của chính mình ngay từ trong nhà rồi ra ngoài đường tìm hiểu xem cách nhà quảng cáo đã khéo léo lồng ghép vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà không hay biêt.

Ví dụ điển hình với quảng cáo truyền hình là cuộc tấn công ồ ạt của các nhà mạng, với những thước phim quảng cáo rất ấn tượng và hài hước để ra mắt mạng 3G. Chiến dịch quảng cáo này thành công đã giúp nhà mạng đưa ra một gói dịch vụ mới tưởng chừng rất gai góc, ấy thế mà đã nhanh chóng được người tiêu dùng chấp nhận và sử dụng rộng dãi. Để khẳng định được sự thành công của mạng 3G thì sự kiện Việt Nam được xếp hạng thứ 11 toàn cầu về lượng người truy cập internet bằng mobile. Đã nhiều người nhận định chiến lược quảng cáo trên đáng khâm phục nhất trong nhiều năm qua.


Không chỉ dừng ở hình thức quảng cáo truyền hình các hình thức quảng cáo khác đơn giản hơn vẫn có thể len lỏi được vào các hộ gia đình và vào các cơ quan một cách nhánh chóng. Việc trực tiếp chuyển tải thông điệp tới khách hàng khách hàng mục tiêu ( sản phẩm, dịch vụ được giới thiệu trực tiếp tới người tiêu dùng ) luôn là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp bởi việc thực hiện đơn giản mà kết quả thấy ngay được. Điều đáng nói ở đây là cách tiếp thị quảng cáo trên có thêm nhiều điểm khác, cách thực hiện văn minh hơn và lịch sự hơn so với trước kia. Ví dụ như việc in quảng cáo trên các phiếu thu tiền sinh hoạt phí hàng tháng hay kẹp tờ rơi quảng cáo vào báo hàng ngày hoặc các hoạt động chăm sóc khách hàng tại nhà của các doanh nghiệp .v.v.

Quảng cáo mà! Khi chúng ta bước ra khỏi nhà cũng không thoát khỏi quảng cáo, hình thức quảng cáo này vẫn hay gọi là “quảng cáo Outdoor”. Những năm trước đây nhắc tới quảng cáo outdoor người ta nghĩ ngay đến việc làm những biển hiệu quản cáo lớn trên đường quốc lộ ra vào nội thành, với mục tiêu tản rộng khắp các cửa ngõ hay bên xe Bus nhiều người dân đị lại. Thì năm 2010 là năm đã ghi nhận những chuyển động tích cực của các nhà quảng cáo khi chuyển về quảng cáo tập trung và mang đậm tính đột phát. Bằng chứng các vị trí Porter lớn, nhỏ tại các khu trung tâm thương thương mại nơi diễn ra các sự kiện lớn trong năm luôn kín lịch thuê, để thuê được thì doanh nghiệp đã phải trả mức phí rất cao mà phải xếp lịch thuê tới 6 tháng. Dấu ấn đột phá in đậm nhất với người tiêu dùng trong năm qua đó là ý tưởng mới lạ thể hiển qua các mô hình 3D không gian ba chiều đầy sống động khiến người xem không khỏi tò mò và trầm trồ khen ngợi. Quảng cáo ngoài trời (outdoor) sẽ còn rất nhiều hứa hẹn trong năm 2011.


Được trả trả lời về xu hướng lựa chọn loại hình thức marketing quảng cáo nào tại việt Nam trong năm 2011? Ông Ashmanov Lgor tổng giám đốc một công ty quảng cáo đến từ Nga có nhận định sau:

1.Quảng cáo truyền hình vẫn là lựa chọn số 1, tuy hình thức này diễn ra không quá sôi động giữa người mua và người bán trên thị trường quảng cáo song nó vẫn luôn chiếm được sự quan tâm và có quyết định lựa chọn từ các doanh nghiệp.

2.Quảng cáo Outdoor với dụ đoán tăng vọt theo đà tăng trưởng kinh tế và xu hương đón nhận cách quảng cáo tiếp thị mới. Các hoạt động nhằm quảng cáo như tổ chức sự kiện ngoài trời, treo biển quảng cáo đèn điện tử, làm mô hình 3D .v.v.. tiếp tục hút ngân sách của các doanh nghiệp bởi phương thức quảng cáo này tạo được nhiều ấn tượng mới lạ với khách hàng.

3.Quảng cáo trên kênh Radio, một hình thức quảng cáo trước đây chúng ta không coi là tiềm năng nhưng thực tế cho thấy năm qua rất nhiều doanh nghiệp quan tấm tới hình thức quảng cáo này bởi khả năng phủ sóng tận ngõ ngách các vùng nông thông.

Chúng ta vẫn biết dân số nông thôn ở nước ta hiện nay vẫn chiến đến 70,4%, một thị trương tiêu dùng mà chúng ta đã bỏ ngỏ bấy lâu nay. Đặc biệt năm vừa qua phong trào “Người Việt Dùng Hàng Việt” đã lan rộng khắp nơi thì hình thức quảng cáo trên Radio đã trở thành kênh quảng cáo hốt bạc.

4.Quảng cáo trên Internet (hình thức quảng cáo trực tuyến), có thể coi đâu là hình thức quảng cáo sôi động nhất trong năm qua. Tuy có được nhiều sự quan tâm và nhận định rằng hứa hẹn nhiều tiềm năng lớn trong tương lai , nhưng thật bất ngờ doanh thu từ hình thức quảng cáo này trong năm 2011 sẽ tăng trưởng không đáng kể bởi hạ tầng cơ sở cung cấp cho dịch vụ quảng cáo này vẫn còn hạn chế và còn nhiều ấp ủ. Vì thế thị phần quảng cáo trực tuyến chủ yếu vẫn vào tay các website quen thuộc.

5. Kẹp tờ rơi quảng cáo vào báo chí hay còn gọi là quảng cáo báo chí nhưng nó khác ở chỗ không phải quảng cáo trên báo mà kẹp tờ quảng cáo vào báo chí. Theo nhận định của nhiều chuyên gia chi phí cho hình thức quảng cáo này chỉ phù hợp với khu vực thành thị và chỉ tiếp cận được khoảng 20% lượng khách hàng mục tiêu. Điều thú vị là 20% khách hàng mục tiêu đó thường ở độ tuổi trung liên hay những doanh nhân đi du học về và người có 80% quyền quyết định với việc tiêu dùng của doanh nghiệp hay trong gia đình. Cách quảng cáo này được xem là giải pháp toàn vẹn cho quảng cáo trên Internet và quảng cáo outdoor.

6.Quảng cáo qua dịch vụ SMS Banking. Năm qua cũng là năm đón nhận nhiều dự lận nhất vế hình thức quảng cáo này. Mặc dù du luận phản đối rất nhiều về cách quảng cáo này nhưng chúng ta vẫn biết quảng cáo là vậy, không bằng cách này thì sử dùng cách khác, cứ từ từ người tiêu dùng cũng quen thôi. Vậy cuối cùng thì quảng cáo vẫn có và doanh thu vẫn tăng, người được hưởng nhiều nhất vẫn là các nhà mạng.
Theo GiaTa

Thẩm tra kế hoạch 5 năm: Hạ CPI, giảm nợ công Việt Nam

picture
Ủy ban Kinh tế đề nghị không đưa giá
 năng lượng và lương thực vào rổ
hàng hóa tính CPI - Ảnh: Viêt Tuấn.
[Marketing3k.vn] Thống nhất về mục mục tiêu tổng quát song cả hệ thống chỉ tiêu cùng khá nhiều chỉ tiêu cụ thể về kinh tế trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2011 - 2015 đã có sự khác biệt đáng kể giữa đề nghị của Chính phủ và quan điểm của cơ quan chủ trì thẩm tra - Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.

Với lý giải đề chủ động trong lãnh đạo và chỉ đạo điều hành, Chính phủ dự kiến hai kịch bản tăng trưởng kinh tế trong 5 năm với mức tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5%/năm (kịch bản 1) và khoảng 7%/năm (kịch bản 2).

Chọn GDP ở mức cao hơn

Báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp sáng 1/10, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết, Chính phủ chọn kịch bản tăng trưởng 7% và các cân đối lớn tương ứng để phấn đấu đạt mục tiêu Đại hội XI đề ra.

Ở kịch bản này, GDP năm 2011 ước tăng 5,8 -6%, năm 2012 tăng 6,5%, các năm 2013 – 2015 có thể tăng cao hơn để bình quân 5 năm có thể tăng khoảng 7%.

Bên cạnh chỉ tiêu này, các chỉ tiêu khác được cơ quan thẩm tra tán thành theo đề nghị của Chính phủ là: tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 35% GDP; số lao động được tạo việc làm 7,94 triệu người; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm và giảm bình quân 4%/năm với 62 huyện nghèo.

Các chỉ tiêu tuyển sinh mới chính quy đại học, cao đẳng tăng bình quân khoảng 6-7%/năm; tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 8%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế 55%; tỷ lệ che phủ rừng là 42-43% cũng nhận đước sự đồng thuận của cơ quan thẩm tra.

CPI năm 2015 phải dưới 5%

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đã không “gật đầu” với các chỉ tiêu CPI, nhập siêu và dư nợ công.

Với tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI), Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015 phấn đấu đạt dưới 7%. Còn với Ủy ban Kinh tế, con số này sẽ phải dưới 5% vào năm 2015 với lộ trình giảm dần từ mức 1 con số ở năm 2012, 2013 – 2014 dưới 6%.

Cũng đề nghị thấp hơn là chỉ tiêu về nợ. Cơ quan thẩm tra chủ trì thẩm tra đưa ra con số nợ Chính phủ không vượt quá 50% GDP và nợ công không quá 60% GDP, đều thấp hơn 5% so với đề nghị của Chính phủ.

Được đề nghị giảm đến hơn một nửa là con số nhập siêu. Chỉ tiêu của Chính phủ là kiểm soát nhập siêu đến 2015 khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu, còn theo Ủy ban Kinh tế thì kiểm soát nhập siêu ở mức khoảng 4% kim ngạch xuất khẩu và không quá 5 tỷ USD vào năm 2015, tiến tới cân bằng kim ngạch xuất, nhập khẩu trước năm 2020.

Ở chỉ tiêu bội chi ngân sách Nhà nước, Ủy ban đề nghị tính theo thông lệ quốc tế và phấn đấu dưới 5% vào năm cuối kế hoạch. Chính phủ xác định giảm mức bội chi xuống 4,5% GDP năm 2015 (không đề cập cách tính theo thông lệ quốc tế).

Đáng chú ý, một số chỉ tiêu kinh tế được dự kiến trong kế hoạch 5 năm của Chính phủ đã không xuất hiện trong báo cáo thẩm tra. Như yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đến 2015 ít nhất là 30%.

Hay giảm tiêu tốn năng lượng tính trên GDP 2,5 – 3%/năm, năng suất lao động xã hội đến 2015 tăng 32% so với năm 2010; tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 5 năm đạt khoảng 13 – 14%/năm.

Một số chỉ tiêu về xã hội cũng không được đề cập tại báo cáo thẩm tra, như thu nhập thực tế của dân cư đến 2015 gấp 2 – 2,5 lần so với năm 2010. Tỷ lệ lao động thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị đến năm 2015 dưới 4%...

Liên quan đến sự khác nhau này, Ủy ban Kinh tế cho rằng, hệ thống chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường 5 năm và hàng năm nên được phân thành hai nhóm, đó là nhóm chỉ tiêu bắt buộc và nhóm chỉ tiêu định hướng. 

Về lĩnh vực kinh tế thì trong kế hoạch hàng năm chỉ nên tập trung vào các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô là: tốc độ tăng trưởng kinh tế; chỉ số giá tiêu dùng (cho phép Chính phủ tính toán và công bố chỉ số lạm phát theo thông lệ quốc tế, không đưa giá năng lượng và lương thực vào rổ hàng hóa tính CPI); kim ngạch xuất khẩu, nhập siêu, bội chi ngân sách, huy động vào ngân sách và trần nợ công. 

Đối với các chỉ tiêu xã hội và môi trường, đề nghị quyết định các chỉ tiêu: tạo việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp, tuyển sinh mới chính quy đại học, cao đẳng; giảm tỉ lệ hộ nghèo; tỷ lệ lao động qua đào tạo và chỉ tiêu tỷ lệ che phủ rừng.

Tăng trưởng tín dụng không quá 3 lần tăng GDP

Trong số các giải pháp trọng tâm được Ủy ban Kinh tế đề nghị cần tập trung thực hiện trong kế hoạch 5 năm đã xuất hiện một vài con số đáng chú ý. Như, điều chỉnh mức thuế thu nhập doanh nghiệp xuống khoảng 20%, tăng thu kinh doanh bất động sản.

Mục tiêu hàng đầu được nhấn mạnh đối với chính sách tiền tệ giai đoạn này là ổn định giá trị sức mua của đồng tiền, điều hành tăng trưởng tín dụng không quá 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm. Kiểm soát tăng tổng phương tiện thanh toán tương thích với tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng giữ ở mức thấp để kiềm chế tăng CPI.

Để góp phần giảm chênh lệch tiết kiệm – đầu tư và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, cơ quan thẩm tra đề nghị phát động phong trào tiết kiệm trong cả sản xuất và tiêu dùng.

Tại nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện các khâu đột phá chiến lược, Ủy ban Kinh tế nhấn mạnh phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường. Xây dựng lộ trình giá thị trường đối với xăng, dầu, điện, than…. Kết thúc chậm nhất trong năm 2013.
Theo Nguyên Hà - VnEconomy
Các bài khác:

Việt Nam: Tiền đề cho cải tổ giáo dục Đại học

Áp lực về hiệu quả, chi phí buộc các trường ĐH
phải tái cấu trúc (ảnh minh họa: Forums idr.edu.vn)
[Marketing3k.vn] Đã có nhiều ý kiến về hiện trạng yếu kém của giáo dục và hiến kế những biện pháp khắc phục. Lần này, chúng tôi trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của một trí thức kiều bào bàn về «Tiền đề cải tổ giáo dục đại học».

1/. Vấn đề cải tổ giáo dục Đại học không mới, nhiều chuyên gia, trong đó có chuyên gia trí thức Việt kiều, đã lên tiếng, trực tiếp hay gián tiếp, từ nhiều năm nay.

Cố gắng gần đây nhất của trí thức Việt kiều là Kỷ yếu Humbold (những điều quan trọng, kỷ yếu Humbold đã viết ra hết rồi, từ tự do hàn lâm đến các mô hình của các nước láng giềng hay mô hình giáo dục ở Mỹ...).

Đó cũng không phải là vấn đề của riêng nước ta. Tổ chức Hợp tác phát triển ở châu Âu (OCDE) cũng nghiên cứu thường xuyên những phương thức cải thiện giá trị của chất lượng giáo dục Đại học và giúp các nước thành viên làm tốt hơn hệ thống giáo dục của họ.

2/. Muốn cải tổ một cách khoa học, đầu tiên ta cần liệt kê và nghiên cứu hết thực trạng Đại học qua các dấu hiệu, tổng kết, lập thang đo, so sánh và đánh giá sau đó.

Đánh giá giai đoạn này giống như y khoa để chẩn bệnh, sau đó mới suy nghĩ cân nhắc và tìm liều thuốc. Chẩn bệnh chính xác và toàn diện mới trị bệnhđúng được. 

Phải đánh giá trước mới định đường hướng thay đổi, tùy theo hoàn cảnh, phương tiện, nhân lực ... Cứ nói là «tệ, phải đổi». Nnhưng tệ chỗ nào, tệ đến bực nào, vì sao tệ ? Biết tường tận rồi mới lên kế hoạch: cái gì có thể đổi được, đổi theo đường hướng nào, tại sao, trong thời hạn là bao nhiêu năm, với những kết quả dự trù nào.

Với những phương kế chính, phương kế phụ và phương kế phòng hờ nào, và với những thủ tục nào để đánh giá các kết quả trong quá trình cải tổ ... ?

Hiện OCDE có chương trình AHELO (Assessment of Higher Education Learning Outcome) để đánh giá kết quả bậc Đại học - tương đương với PISA dành cho Trung học chẳng hạn.

Những ý kiến phát biểu trên các diễn đàn, trong đó có nhiều ý kiến khẳng định mạnh mẽ, có bằng cớ, có luận cứ, nhưng vẫn chỉ là những giả thuyết hay nhận xét của những cá nhân, dù cho các cá nhân ấy là những nhà khoa học có uy tín.

Ta có truyền thống Hội nghị Diên Hồng, thu thập ý dân, kinh nghiệm của các bậc lão thành. Nhưng ta cần làm việc một cách khoa học, hợp với thời đại.

Ta theo dân chủ tập trung, nhưng một bộ luật giáo dục dù tân tiến và hoàn hảo đến mấy cũng khó áp dụng, mau lỗi thời và có thể phản tác dụng vì quá cứng nhắc.

3/. Phải cải tổ toàn diện. Không như kiểu vá áo, vá vụng về, nay đổi chỗ này, mai thay chỗ khác. Sinh viên đại học xuất thân từ trung học cơ sở và phổ thông, các hệ giáo dục theo một logic nhất định - hệ trước chuẩn bị hành trang cho hệ sau. Không giỏi toán thì làm sao học kỹ sư? Trung học cơ sở và phổ thông là nền móng cho giáo dục Đại học.

Chỉ lo cải tổ Đại học là «làm ngọn», trong khi «gốc» cũng có thể đã lung lay hay là cần «thêm nguồn sinh khí».

Bản thân tôi rất thiết tha đến giáo dục mầm non. « Dạy con từ thuở còn thơ ...». Ngay ở bên trời Âu, để làm giảm bất bình đẳng ở cấp Trung và Đại học chẳng hạn, nhiều nhà sư phạm đề nghị phải lo từ các lớp mẫu giáo - ở tuổi mà bộ não các cháu rất mềm dẻo, các cháu hấp thụ rất nhanh và rất tốt những «dạng», «mẩu» hay «mô hình» căn bản giúp các cháu tiếp thu những tri thức mới sau này. 3-6 tuổi là tuổi của phát triển khả năng ngôn ngữ, kể cả khả năng về tiếng mẹ đẻ. Kiểm soát và giàu khả năng ngôn ngữ là giúp phát triển vũ trụ của những biểu tượng và trí óc trừu tượng, những cơ sở tối cần cho học hỏi.

Mặt khác, dạy các cháu về đạo đức xã hội ở thời điểm này cũng có những hiệu quả tuyệt vời.

Tất cả những vốn liếng thu nhận được ở bậc mầm non thành những hành trang rất cần để sống tốt cả đời, trong đó có sự học. Nói theo kiểu nhà xã hội học Pierre Bourdieu «đấy là những mẫu sống, nhân cách cần để cư xử và hành động» (habitus). Thiếu những mẫu ấy thì khó thành công hơn vì văn hóa của trường học, văn hóa tri thức nhiều khi khác với văn hóa của gia đình học sinh.

Cần cải tổ cả xã hội nữa, với những bậc thang giá trị, đạo đức, liên hệ giữa người với người ... Xã hội và Đại học không là hai hòn đảo biệt lập. Xã hội và Đại học liên hệ hỗ tương với nhau.

Thí dụ khái niệm «tự do hàn lâm» trong Đại học chẳng hạn phải đi đôi với khả năng, trách nhiệm, lương tâm, tận tụy, trong sạch ... của người làm khoa học - những đức tính mà khoa học gia đã tiếp thu được từ gia đình và xã hội. Tự do hàn lâm được xem như là khuôn vàng thước ngọc tại các Đại học trên thế giới (trong Kỷ yếu Humboldt 2011, GS Ngô Bảo Châu viết «môi trường Đại học cần tự do tuyệt đối»). Nhưng giao tự do hàn lâm cho một người quen với gian trá, giả dối thì sẽ là một thảm họa.

Tôi vẫn nghĩ gia đình và học đường là hai thành lũy cuối cùng của đạo đức xã hội: Phải làm sao chống tham nhũng trong giáo dục và cải tổ quản lý.

4/. Đặt cơ sở triết lý giáo dục (Vì sao dạy và học Đại học) trước khi đặt vấn đề dạy/học gì và dạy/học như thế nào ?

Ngày nào ta còn quan niệm rằng học để ra làm «quan », để mưu sinh - tức là chỉ thực dụng, thì đừng trách tinh thần trọng bằng cấp rồi từ đó nẩy nở ra các tệ hại khác như : bằng giả bằng dỏm, mua bán bằng ... Nhìn sâu vào chi tiết hơn thì có trường có môn tuyển được nhiều thí sinh, có môn bị xem rẻ; chấm điểm xếp hạng trường và thậm chí có xu hướng «tị nạn giáo dục» - ra nước ngoài dạy và học.

Học vì muốn làm người? Học để sống trong xã hội? Học vì hạnh phúc? Học để giúp nhà giúp nước? Học để rèn bản thân? Học để thỏa lòng đam mê muốn khai phá những điều mới mẻ? ...

Nghiên cứu khoa học cũng thế. Cần có nghiên cứu ứng dụng, nhưng nghiên cứu cơ bản dù không thấy có ích lợi trước mắt, cũng cần nữa (Toán là một ngành nghiên cứu cơ bản chẳng hạn). Xã hội có những nhu cầu ngắn hạn, nhưng muốn phát triển bền vững thì phải nghĩ xa hơn, chuẩn bị để trả lời cho những nhu cầu của xã hội trong tương lai.

Trừ phi ta chỉ muốn theo chân người khác và sao chép thành quả của người khác.

Ta chờ đợi gì ở Đại học ? Đào tạo một tầng lớp tinh hoa của xã hội, để góp phần vào sự nghiệp quốc gia, phát triển bền vững và độc lập tự do hạnh phúc – ba phạm trù cuối này, ta đã đặt trên bất cứ mẫu văn kiện nào từ nhiều thập niên qua ?
Vấn đề triết lý giáo dục thành ưu tiên một, đặt nền tảng và hướng đi cho mọi cải tổ, đổi mới.

(ảnh minh họa: Forums idr.edu.vn)

5. Kinh nghiệm của nước ngoài ?

Nhiều chính trị gia trong nước ra những quyết định «đúng với trào lưu, các nước văn minh đã làm rồi». Nhiều Việt kiều cũng «hiến kế». Dĩ nhiên, theo dấu những người đi trước có thể giúp ta rút ngắn thời gian «thử thách, tìm tòi». Có những kinh nghiệm ở Mỹ, ở Úc, ở Phần Lan ...

Nhưng lấy thí dụ những mô hình của Bỉ, chẳng hạn: những mô hình này chỉ áp dụng được cho hoàn cảnh đặc thù của Bỉ. Vả lại, tiếp thu kinh nghiệm giáo dục Bỉ là tiếp thu cả vấn đề bất bình đẳng trước Đại học và tỉ lệ sinh viên thi rớt ở năm đầu hay sao (phân nửa sinh viên vừa vào Đại học ở Bỉ phải bỏ học, chuyển ngành hay ngồi lại vì thi rớt năm đầu – một tỉ lệ không ai chấp nhận nhưng từ bốn mươi năm nay, chưa ai tìm ra giải pháp thật sự hữu hiệu !) ?

Kinh nghiệm của nước ngoài cần để tham khảo và chỉ để tham khảo thôi. Trước khi áp dụng phải kiểm chứng với bối cảnh Việt Nam.

Thế nhưng, dù không dựa trên kinh nghiệm nước ngoài, vấn đề nhân sự – giảng viên, giáo sư, khoa học gia, ít nhất là trong ngắn hạn, là một vấn đề cam go. Có thể phải cậy ở nguồn nhân lực của nước ngoài trong đó có nguồn trí thức và khoa học gia Việt kiều. Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc đã giải quyết vấn đề nhân sự Đại học như vậy cách đây mấy mươi năm.

Nhiều nhà giáo vẫn nói «học một biết mười» để nhấn mạnh vai trò tự học ở Đại học. Một cách tương tự, trong vấn đề nhân sự : phải biết mười để dạy một, nếu không thì làm sao bảo đảm được chất lượng của việc giảng dạy và trả lời được các nhu cầu rất đa dạng của sinh viên trong quá trình phát triển, rất nhanh của khoa học? Trừ phi là ta muốn dậm chân tại chỗ, dạy cho sinh viên những gì ta đã học mấy năm về trước. Hiện ta đang nghèo về nhân sự có khả năng chuyên môn cao trước những nhu cầu càng ngày càng bức xúc của (theo tôi được biết là) gần 2 triệu sinh viên.

6/. Cuối cùng, vấn đề cải tổ Đại học nói riêng và cải tổ giáo dục nói chung cần làm gấp vì những chậm trễ trong khoa học khó bắt kịp sau đó. Một nền giáo dục và khoa học bị ...đau ốm - để tiếp tục việc so sánh với việc chẩn bệnh và trị bệnh ở trên - thì tương lai, vận mệnh quốc gia sẽ ra sao?

Cải tổ Đại học và cải tổ các bậc khác cùng làm song song như hai mũi nhọn cho một vấn đề. Trong vài năm sẽ đào tạo được những chuyên viên trí thức có khả năng góp phần mình tiếp tục làm tốt hơn nữa cho ngành giáo dục, hoàn thiện cải tổ bậc trung học và bậc mầm non hay làm sâu hơn công tác nghiên cứu khoa học.

Trong lúc đó, nghiên cứu về hiện trạng giáo dục, hiện trạng xã hội , các nhu cầu của xã hội ... sẽ chẳng những có ích cho việc cải tổ giáo dục, mà sẽ còn là những đột phá nhìn nhận tầm quan trọng của các khoa học xã hội và nhân văn, mở đường để tiến tới một xã hội phát triển hài hòa và bền vững.

Còn một vấn đề tế nhị lại nằm ngoài chuyên môn của tôi, nhưng tôi nghĩ tăng lương cho giáo viên, giảng viên là một việc cần. Việc này hợp lý vì người làm giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong xã hội. Có lương đủ sống giúp các nhà giáo dành hết thì giờ cho học trò, mức lương chấp nhận được sẽ lôi cuốn nhiều người trẻ lăn xả vào sự nghiệp khoa học và sự nghiệp trồng người ...

Tôi đang mơ có một viện thống kê độc lập mà bất cứ lúc nào cũng có thể cho ta chân dung chính xác với số liệu của mọi khía cạnh của xã hội: từ kinh tế, nhân chủng, tới y tế, giáo dục ... Để từ đó « bắt mạch » được xã hội, hầu có cơ sở mà suy nghĩ tới những phương thức phát triển, cập nhật. Hiện nay, một thí dụ nhỏ: muốn tìm tổng số sinh viên Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam cũng khó khăn.

Mong là con đường đi đến một nền giáo dục có chất lượng không quá nhiều chông gai.

Nhưng tôi yên tâm vì Việt Nam ta vẫn nói : 
«Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi,
Chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông»

Nguyễn Huỳnh Mai
Liège, Bỉ
----------------------------------------
LTS Dân trí - Những ý kiến đóng góp của tác giả Nguyễn Huỳnh Mai từ Bỉ gửi về khiến chúng ta phải lưu ý để có lộ trình phù hợp, có căn cứ khoa học cho quá trình cải cách giáo dục. Để không mắc những sai lầm đáng tiếc hoặc thực hiện cải tổ một cách chắp vá giống như người « vá áo », vá được chỗ này lại bục ra chỗ khác.

Nền giáo dục vốn tồn tại là một hệ thống giáo dục từ mầm non lên đến đại học, cho nên chất lương giáo dục của những bậc học ở dưới luôn là tiền đề cho chất lượng những bậc học tiếp theo. Không thể nâng cao chất lượng giáo dục đại học một cách căn bản nếu không bảo dảm chất lượng cần thiết của những bậc học bên dưới.

Lâu nay ta vẫn còn coi nhẹ bậc học mầm non, đa số cô giáo của bậc học này ở nông thôn không có trong « biên chế », đời sống tối thiểu không được bảo đảm. Như vậy làm sao bảo đảm được chất lượng của bậc học mở đầu đời người và có ý nghĩa sâu sắc đến việc hình thành những khả năng và tính cách của con người như tác giả bài viết đã nhấn mạnh?

Cải cách nền giáo dục có nhiều bất cập và yếu kém là cần thiết, nhưng cần «đổi mới » một cách căn bản và toàn diện cả hệ thống giáo dục mới đạt được kết quả mong muốn.
----------------------------------------
Các bài khác: