Showing posts with label Sản Phẩm Mới. Show all posts
Showing posts with label Sản Phẩm Mới. Show all posts

Friday, February 15, 2013

Bill Gates: Sản Phẩm đáng hối tiếc nhất của Microsoft là WinFS

[Học marketing] Kể từ ngày 11 tháng 2 vừa qua, chủ tịch kiêm đồng sáng lập Microsoft - Bill Gates đã bắt đầu trả lời các câu hỏi từ phía người dùng qua chương trình Ask Me Anything (AMA) trên Reddit. Mặc dù ngay từ đầu, Gates muốn hướng trọng tâm câu hỏi vào chủ đề quỹ Bill and Melinda Gates Foundationnhưng ông cũng không ngần ngại hồi đáp về những thông tin liên quan đến Microsoft. Dưới đây là một số câu hỏi đầu tiên được Gates trả lời:

Chương trình hay sản phẩm nào của Microsoft đã không bao giờ được phát triển hoàn thiện hay được phát hành mà ông muốn thương mại hóa nhất?

Gates: Chúng tôi đã từng có một cơ sở dữ liệu phong phú đóng vai trò như một máy chủ/kho lưu trữ đám mây được trang bị cho một phiên bản hệ điều hành Windows trước đây. Đây là một ý tưởng tái kết hợp - kho lưu trữ đám mây sẽ rất phong phú với mô hình sơ đồ thay vì một mớ hỗn độn các tập tin và máy chủ sẽ là một phần bản sao của kho lưu trữ.

Đối với những ai chưa biết về mô hình này thì Gates gợi ý đến WinFS hay Windows Future Storage. Ý tưởng đằng sau WinFS là tích hợp các công nghệ cơ sở dữ liệu liên quan vào hệ thống Windows File System. Lúc bấy giờ, dự án của Microsoft có tên mã là Cairo và WinFS từng là chìa khóa quan trọng trong các kế hoạch xây dựng một dịch vụ lưu trữ tập tin thực sự theo định hướng chủ thể.

Microsoft đã giới thiệu WinFS như một thành phần cốt lõi của phiên bản Windows Vista/Longhorn. Sau đó, dự án Longhorn được tái thiết và Microsoft cuối cùng đã phát hành WinFS dưới dạng các thành phần của SQL Server và các bản phân phối tập trung vào cơ sở dữ liệu khác.

Điều trùng hợp là trong cùng thời điểm với câu trả lời của Gates, Brian Welcker - một nhân viên kì cựu của Microsoft từng làm việc tại bộ phận SQL Server đã chia sẻ nhưng ý kiến của mình về WinFS trên MSDN Blog. Brian hiện tại đang giữ chức vụ quản lý chương trình Microsoft Dynamics và ông gọi WinFS là một ví dụ đầu tiên về thể loại những dự án "đoản mệnh".

billgatesreddit

Trích từ bài viết của Welcker:

Trong thời gian đầu sự nghiệp của tôi tại Microsoft, tôi là một phần của một trong những "thảm họa" phát triển lớn nhất tại đây. Không, không phải là Windows Vista đâu nhé mà là WinFS. WinFS là một nổ lực nhằm mang những lợi ích của mô hình giản đồ và cơ sở dữ liệu vào hệ thống Windows File System. Tôi chưa từng làm việc trực tiếp về WinFS nhưng kể từ khi hoạt động trong nhóm SQL Server thuộc bộ phận Reporting Services, tôi đã có cơ hội theo dõi nó (dự án WinFS) từ khi khai sinh đến lúc khai tử. Tôi sẽ không trình bày cụ thể về WinFS tại đây nhưng nếu bạn muốn tìm hiểu chi tiết hơn, bạn có thể tìm kiếm trên Wikipedia. WinFS được phát động vào năm 1999 kế thừa từ dự án Cairo và "chết" vào năm 2006 sau khi tốn hàng ngàn giờ làm việc của các kỹ sư hàng đầu tại Microsoft ở thời điểm đó.

Ngoài ra, Welcker cũng nhấn mạnh rằng không quá 2 thành viên của nhóm phát triển WinFS biết được câu trả lời cho câu hỏi: "WinFS là gì?" Ông nói:

Một số người có thể nói rằng WinFS là cơ sở dữ liệu được nhúng trong hệ điều hành. Số khác có thể nói nó là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML trong cơ sở dữ liệu. Những câu trả lời còn lại bao gồm một hệ thống tập tin dựa trên SQL, một lớp sơ đồ hóa dữ liệu, hệ thống lưu trữ cho các ứng dụng Office hay một hệ thống mục lục metadata, .NET trong cơ sở dữ liệu … Do không ai có thể nhận ra tính cốt lõi của dự án nên rất khó để có thể đưa ra các quyết định về những gì nên bao hàm và những gì không nên.

Bill Gates không chỉ bày tỏ niềm đam mê công nghệ trên Reddit. Khi được hỏi về những thứ rẻ tiền nhất khiến ông hài lòng nhất kể từ khi giàu có thì Gates đã trả lời: "Trẻ em, bánh burger pho mát rẻ tiền, các khóa học Open Course Ware … và cả Reddit."

Người ta thường tặng ông những gì trong ngày sinh nhật giả dụ rằng ông có thể mua mọi thứ mình muốn?

Gates: Phần mềm miễn phí. Tôi chỉ đùa thôi. Thường người ta sẽ tặng tôi sách.

Gates cũng trả lời một câu hỏi về thành tựu tiếp theo mà ông đang ấp ủ trong suốt phiên hỏi đáp trên Reddit. Ông cho biết ông vẫn đang tập trung vào công nghệ robot và nhận dạng giọng nói, điều ông đã và đang theo đuổi trong nhiều năm.

Theo ông, những công nghệ nổi bật nào hiện nay sẽ tạo nên một sự khuấy đảo lớn đối với người tiêu dùng theo cái cách mà máy tính cá nhân đã làm được trong nhiều năm trước?

Gates: Robot, màn hình rộng khắp, tương tác giọng nói - tất cả sẽ thay đổi cách thức chúng ta nhìn vào "máy tính". Một khi việc nghe, việc nhìn và việc đọc hoạt động tốt, bạn sẽ tương tác theo nhiều cách mới …

Nguồn: ZDNet

Wednesday, June 27, 2012

Doanh nhân gốc Việt kiếm 80 triệu USD của Steve Jobs: "Tôi chắc chắn Facebook sẽ thất bại"

"Mỗi lần bắt đầu một thương vụ,
tôi lại giống như hiệp sĩ Don Quixote
và mắc sai lầm. Nhưng tôi luôn cố
gắng hết mình", Bill Nguyễn chia sẻ.
[Marketing3k - Sáng Tạo] Luôn khởi sự khá vội vã, không bao giờ nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh nhưng doanh nhân gốc Việt, Bill Nguyễn luôn khiến các đại gia công nghệ phải đổ hàng triệu USD vào những dự án của mình.

Kiếm được 80 triệu USD của Steve Jobs

Sinh năm 1971, Bill và gia đình rời Việt Nam từ khi còn nhỏ. Lớn lên ở Houston nhưng hiện nay, thung lũng Silicon mới là thiên đường của anh. Ngay từ khi ngồi trên ghế trường cấp ba, Bill đã khiến những người bạn Mỹ to lớn của mình phải ngưỡng mộ khi trở thành chủ tịch Liên minh Học sinh gốc Phi dù thực tế anh là người gốc châu Á.

Hay nguồn năng lượng giữ anh tỉnh táo suốt đêm dù chỉ uống CokeZero rồi ngay sáng hôm sau lại có thể chơi bóng bàn với các nhà phát triển phần mềm của mình. Hay nguồn năng lượng giúp anh luôn căng tràn sức trẻ như một chàng trai 20 tuổi và trên miệng luôn nở nụ cười chứ không phải người đàn ông đã qua ngưỡng 40 và có gia đình.Với dáng người nhỏ bé và chỉ nặng hơn 60kg nhưng Bill Nguyễn luôn gây ấn tượng là một người tràn đầy năng lượng. Người ta có thể cảm thấy nguồn năng lượng bất tận ấy khi anh vung tay như làm trò tung hứng và giới thiệu về văn phòng của mình tại trung tâm thành phố Palo Alto (Mỹ).

"Có một câu nói nổi tiếng của Don King là "Cuộc chiến sẽ chỉ trở nên thú vị khi đối thủ của anh xuất hiện", Bill vừa cười vừa trích dẫn câu nói yêu thích của mình. Và câu nói đó hoàn toàn thích hợp khi nói về Bill Nguyễn, người luôn có những ý tưởng mới khiến các liên doanh tư bản, các ông chủ tập đoàn, những cây bút chuyên về công nghệ phải phát cuồng lên.

Điều đó được thể hiện rõ nhất trong thương vụ bán trang web Lala.com năm 2009 cho hãng Apple với giá 80 triệu USD. Và đó không phải là lần đầu tiên những nhà đầu tư công nghệ cao đổ hàng triệu USD cho những ý tưởng của Bill Nguyễn.

Sau 10 tháng làm việc với huyền thoại Steve Jobs ở Cupertino (California, Mỹ), người đàn ông nhỏ bé này quyết định đã đến lúc tự bước trên đôi chân của mình. "Khi làm việc cho Apple, tôi nhận thấy rằng hãng này đang mở ra một thời kỳ hậu PC (máy tính cá nhân). Tôi bắt đầu suy nghĩ rất nhiều về việc tận dụng điều này bởi thế giới hậu PC là vô cùng rộng lớn", Bill Nguyễn chia sẻ.

Bill Nguyễn tham gia buổi gặp mặt các CEO công nghệ hàng đầu của Mỹ do Thời báo Tài chính FT tổ chức.

Trước đó, anh từng bán Công ty Onebox chuyên về phần mềm chuyển tin nhắn với giá 850 triệu USD ở tuổi 29. Bill Nguyễn cũng từng rất thành công với Forefront. Sau ba năm phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO), công ty phần mềm này đã có giá trị lên tới 145 triệu USD.

Tiếp đó, với khoản đầu tư khiêm tốn 3 triệu USD, Bill Nguyễn bán công ty Freeloader với giá trị lên tới 38 triệu USD. Năm 1997, anh tiếp tục đầu tư 2,5 triệu USD vào Support.com chuyên về dịch vụ hỗ trợ từ xa dựa trên công nghệ đám mây và cổ phiếu của công ty này đã tăng gấp đôi ngay khi phát hành lần đầu (32 USD/cổ phiếu).

"Tôi chắc chắn rằng Facebook sẽ thất bại"

Dự án mới đây nhất của anh mang tên Color khiến giới truyền thông ngỡ ngàng khi được các ông lớn đầu tư tới 41 triệu USD.

Vóc dáng nhỏ bé, trang phục giản dị và nụ cười thường trực trên môi nhưng
Bill Nguyễn là người rất nghiêm khắc trong công việc.

Nhưng ít người biết rằng, ý tưởng ban đầu của Bill về Color là một ứng dụng mang tên "Furr", một trò chơi thực tế ảo mà anh mô tả như một "thế giới hoạt hình Pixar trên di động". Tuy nhiên, sau 3 tháng miệt mài, anh ngộ ra rằng mọi người sẽ không đi loanh quanh với điện thoại thường trực trước mặt. Vậy là, đến tháng 12/2010, một ý tưởng mới ra đời: một mạng xã hội dành riêng cho thời đại di động mang tên Color.

Theo ý tưởng của Bill Nguyễn, Color là một ứng dụng rất mở để chia sẻ hình ảnh mà người dùng không cần tên hoặc mật khẩu. Người dùng sẽ tải ảnh lên mạng xã hội Color và có thể kết nối với những người dùng khác trong phạm vi 50m. Trạng thái của người dùng sẽ thay đổi mỗi khi họ di chuyển và chính điều này đã làm cho tính tương tác của Color mạnh hơn so với những mạnh xã hội hiện nay.

Bill luôn gây ấn tượng là một người tràn đầy năng lượng dù anh chỉ ngủ vài tiếng mỗi ngày.

Bill Nguyễn tin rằng Color soán ngôi được "ông lớn" Facebook trên thị trường mạng xã hội đang bùng nổ hiện nay. "Khi Steve Jobs đưa ra thế giới công nghệ hậu PC thì đồng nghĩa mọi công nghệ từng được viết ra trước đó đều trở nên vô nghĩa. Điều đó tương tự với Facebook, một mạng xã hội dựa trên những công nghệ cũ. Bạn phải ngồi trước máy tính và nói với nó bạn là ai hay bạn thích điều gì. Tôi chắc chắn rằng Facebook sẽ thất bại", Bill khẳng định với tạp chí Fast Company vào tháng 3/2011 trước cả khi cho ra mắt Color. 

Giao diện của Color phiên bản đầu.

Đúng 17h ngày 23/3/2011 (giờ địa phương), Color phiên bản đầu tiên chính thức ra mắt. Tuy nhiên, phần mềm này ngay lập tức lộ rõ yếu điểm. Để tham gia vào Color, các nhóm người dùng phải ở những địa điểm giống nhau. Tuy nhiên, chưa có quá trình chạy đà nên nhiều người dùng như bị lạc vào thế giới ma, không người ở.

"Sau 30 phút tôi nhận ra, Chúa ơi, nó hỏng rồi. Quỷ thật, chúng ta đã phá hỏng tất cả. Tôi tưởng chúng ta xây dựng một Facebook tốt hơn nhưng hóa ra lại tự đút tay vào ổ điện", Bill thốt lên.

Tìm hiểu đối thủ sau khi... thất bại

Sau thương vụ bất thành, bạn bè và đồng nghiệp rất lo lắng rằng Bill sẽ suy sụp. Nhưng người đàn ông nhỏ bé chỉ cười và nói: "Tôi không bao giờ để cảm xúc xen vào công việc. Tôi có thể cãi nhau nảy lửa với ai đó nhưng chỉ 5 phút sau tôi đã quên luôn".

Hiện nay, Bill Nguyễn đang ấp ủ về một phiên bản mới của Color.

Sau khi Color phiên bản đầu thất bại, bộ máy của ColorLabs đã có sự xáo trộn lớn khi Bill Nguyễn sa thải đồng chủ tịch Peter Phạm và giám đốc phát triển sản phẩm DJ Patil từ chức.

"Tôi không muốn phí thời gian với những người không toàn tâm toàn ý và hay than vãn. Tôi tham gia mọi cuộc chơi và luôn giành chiến thắng. Ngay cả việc giảm cân, tôi cũng có chiến lược cho riêng mình và cố gắng thực hiện nó nhanh hơn những người khác. Kể cả khi phải vào viện, tôi cũng sẽ đánh bại tất cả bọn họ", Bill Nguyễn cho biết.

Và như để chứng minh điều đó, Bill tiếp tục lao vào nghiên cứu Color phiên bản mới. Trong thời gian này, anh bắt đầu lập cho mình một tài khoản Facebook và tìm hiểu kỹ hơn đối thủ của mình. "Ôi Chúa ơi, đây quả thực là một phát kiến vĩ đại và nó là Facebook. Chúng ta sẽ làm cho nó có thêm nhiều chức năng hơn và có giá hơn bao giờ hết", Bill thốt lên khi lần đầu tiên tìm hiểu đối thủ nặng kí nhất của mình.

Hiện nay, Bill Nguyễn với CEO Mark Pincus của công ty phần mềm Zynga chuyên sản xuất các trò chơi, ứng dụng trên mạng xã hội. Pincus là ông chủ cũ của Bill khi anh còn là một lính mới ở thung lũng Silicon và giờ đây mục tiêu tiếp theo của doanh nhân gốc Việt là "xây dựng một công ty lớn hơn của Mark". Anh hy vọng phiên bản mới của Color sẽ được chạy trên Facebook và tạo được cơn sốt như trò chơi FarmVille của Zynga trước đây.

Đầu tháng 5 vừa qua, Bill Nguyễn đã công bố thỏa thuận hợp tác với Verizon, nhằm cung cấp Color cho các khách hàng sử dụng dịch vụ của hãng này.

Chia sẻ về bí quyết thành công, triệu phú chưa tốt nghiệp đại học này cho biết: "Khi bắt tay vào một thương vụ mới, bạn không nhất thiết phải phát minh lại thế giới".

Theo bee.net/FastCompany

Wednesday, June 20, 2012

Alibaba: của Caesar hãy trả lại cho Casesar

Jack Ma
[Marketing3k- Doanh nhân] Câu chuyện thành công của Jack Ma đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người. Sinh ra vào năm 1964. Lớn lên trong suốt cuộc cách mạng văn hóa, Ma đã tự học tiếng Anh. Khi còn là đứa trẻ ông đã đạp xe đến một khách sạn ở Hàng Châu nơi mà người nước ngoài được cho phép ở lại, đề nghị các tour du lịch cho thực tập để luyện tập tiếng Anh.

Theo đuổi ý tưởng và lý tưởng, không phải tiền bạc


Sau khi rớt kì thi đầu vào đại học lần 2, ông vào một ngôi trường tồi tàn, Trường cao đẳng sư phạm Hàng Châu. Sau đó ông làm việc như một thông dịch viên thương mại và có cơ hội đến Mỹ vào năm 1995. Trở lại quê hương ông đã mượn 2.000 USD để bắt đầu một trong những trang web thương mại đầu tiên của Trung Quốc. Trang web danh bạ về các trang web tại Trung quốc thất bại. Một vài năm sau,lúc đó Ma đang làm việc ở Bộ Ngoại Thương và hợp tác kinh tế, đã có cơ hội làm bạn với một nhà kinh doanh sinh ra ở Đài Loan,người đồng sáng lập Yahoo, Jerry Yang.

Jack Ma lúc mới khởi nghiệp. Ảnh: Forbe
Tình bạn Ma và Jerry Yang. Ảnh: Internet

Ma đã tung ra Alibaba tại căn hộ của mình vào năm 1999 với 17 người khác, huy động 60.000 USD với khái niệm mơ hồ nhằm giúp dỡ các công ty Trung Quốc kết nối với thế giới. Về sau, các công ty khác trong tập đoàn – Taobao, Alipay (e-payments) và AliCloud (dịch vụ dữ liệu điện toán đám mây),đã mở rộng ý tưởng dùng mạng Internet để gỡ bỏ hàng rào cho những công ty nhỏ bán hàng trên mạng.

Niềm tin đã là một vấn đề quan trọng của Alibaba ngay từ những ngày đầu. Cái tên Alibaba có ý nghĩa gợi đến “vừng ơi mở ra” (như trong việc mở ra các thị trường quốc tế).

Công ty của Ma bắt đầu như là một dịch vụ niêm yết miễn phí cho những nhà sản xuất nhỏ của Trung Quốc tìm kiếm khách hàng nước ngoài. Đôi khi nó bị bêu rếu vì quá khó kiếm tiền. Doanh thu bị lờ đi, số lượng người dùng của Alibaba.com đã tăng lên, và chi phí cũng tăng lên.


Hành trình xây dựng một "đế chế"

Ma thích nói về những nhà đầu tư đã tin tưởng ông thời kì đầu như Goldman Sachs, tổ chức đã rót vào 4 triệu đô là tương đương 23% cổ phần vào năm 1999. Câu nói cửa miệng của Ma thời gian đó: “Tôi không quan tâm về lợi nhuận” không phải là một màn kịch, đó cũng là lý do đã làm cho “cánh tay phải” của ông là CFO của tập đoàn, Joe Tsai (nhân viên thứ 19) đau đầu và thay đổi cách suy nghĩ. Tsai kể lại trong một buổi phỏng vấn hiếm hoi với tạp chí Fortune “Vào những ngày đầu tôi không hiểu lắm những gì mà Jack đang nghĩ. Tôi nói với Jack ,mọi người nói rằng trang web của chúng ta không là gì cả ngoài một bảng dịch vụ thông báo. Ma đáp lại, Ông ấy đã hoàn toàn tập trung vào việc xây dựng nền tảng cốt lõi của thị trường với rất nhiều danh sách, rất nhiều người bán và sau đó là rất nhiều người mua.”

Cuối cùng, khi mà tiền cạn vào năm 2002, Ma cho biết, ông đã cầu cạnh đến các nhà đầu tư mạo hiểm những người đã giúp ông huy động được tổng cộng 25 triệu USD để vốn hóa trang web. Trong số họ có Goldman Sachs, Fidelity Investment và Softbank. “ Chúng tôi đã đồng ý hãy cùng nhau tạo ra lợi nhuận. Cho đến ngày hôm nay tôi vẫn tin rằng việc thu phí người bán ở thời điểm đó để được có mặt trên trang web sẽ hạn chế sự phát triển của Alibaba, vì thế chúng tôi quyết định cung cấp dịch vụ miễn phí” Ma kể lại.


Và Taobao.com được tạo ra vào năm 2003 cũng theo một con đường này trong việc kết nối người bán với người tiêu dùng trong mô hình B2C. Ma không chấp nhận thu phí bất cứ thứ gì cho việc đăng thông tin hay giao dịch. Trong khi eBay chế nhạo rằng “miễn phí không phải là một mô hình kinh doanh” thì Ma đã khiến miễn phí trở thành câu thẩn chú để lôi kéo khách hàng. Và cuối cùng Ma đã làm được. Đến hôm nay Taobao đã trở thành một con quái vật khổng lồ đầy quyền lực của thế giới thương mại điện tử tại Trung Quốc.

Miễn phí tạo nên giá trị

Tsai đã phát biểu trên trang Facebook của mình sau khi ông đang theo dõi phim The Social Network tại New York với vợ ông vào năm ngoái: Diễn viên người đóng Mark Zuckerberg nói với người đối tác của anh ta Eduardo Saverin rằng hãy quên chuyện làm ra tiền, rằng anh ta thậm chí còn không biết những gì anh ta đã tạo ra hay nó sẽ trở thành cái gì. Khi đến đoạn đó, tôi gần như nhảy ra khỏi ghế của mình: “Ôi trời, đó chính xác là những gì mà Jack đã nói với tôi vào năm 2004! Đây là sự khác nhau giữa những người trong việc kinh doanh Internet và những người bình thường. Những người bình thường nghĩ rằng bạn không đang tạo ra giá trị to lớn nếu như bạn không đang tạo ra doanh thu. Mọi người trên mạng Internet nghĩ rằng bạn đang tạo ra giá trị khổng lồ nếu như số lượng khổng lồ nhiều người đang đến với trang web của bạn để dùng nó và họ đang rất trung thành với trang web của bạn”.

Ngày nay Taobao có 110 triệu khách ghé thăm mỗi tháng. Và Ebay Trung Quốc chỉ có khoảng 6.1 triệu mỗi tháng. Đạt mức 400 triệu người dùng đăng kí, Taobao có giá trị các giao dịch gấp đôi vào năm ngoái, và họ đang mong đợi gấp đôi một lần nữa vào khoảng 120 tỉ USD vào cuối năm 2012. Taobao đang sở hữu thị phần kinh doanh trong lĩnh vực B2C vào khoảng 90%, bỏ xa Ebay.cn và Amazon.cn

Taobao vẫn không thu phí cho việc đăng sản phẩm hay các giao dịch cho hầu hết 8 triệu người bán hàng mạng. Ma vẫn khẳng định rằng nó “rất có lợi nhuận”. Bằng cách nào? Bằng cách thu phí cho quảng cáo trong các kết quả tìm kiếm, cũng như những trình diễn quảng cáo đặc biệt trên trang chủ và các trang danh mục. Goldman Sachs dự đoán rằng trước năm 2013 công ty sẽ thu về 716 triệu doanh thu trước thuế trong tổng doanh thư 2.9 tỉ USD và có giá trị vào khoảng 14.3 tỉ USD. Hóa ra là miễn phí là một mô hình kinh doanh có thể hoạt động

Goldman Sach đã tiếc là không thể thấy được khả năng nhìn xa trông rộng của Ma. Vào năm 2004 công ty này đã thoái vốn đầu tư tại Alibaba và thu về 25 triệu USD. Số cổ phần đó có thể chiếm 10% giá trị tập đoàn ngày nay, hay trị giá 2 tỉ (Softbank của Nhật Bản, một nhà đầu tư sớm khác, đã giữ 31% cổ phần của nó, và giờ đây trị giá 6 tỉ USD)

Ma đã có thể từ chối một vài nhà đầu tư chạy theo doanh thu và vẫn vượt qua eBay, nhờ vào một 1 tỉ đô la bơm vào của Yahoo vào năm 2005. Thỏa thuận đã được kí khi Jerry Yang vẫn còn đương nhiệm. Nó cũng khẳng định một tình bạn lâu dài, dù cho nó có thể không còn như trước. Một bức hình mỉm cười của Yang và Ma và vợ của ông tại vạn lý trường thành được treo trong văn phòng của Ma.

Jerry Yang và Jack Ma tại Diễn đàn internet Trung Quốc 2005
Ghi tên vào lịch sử

Thương vụ với Yahoo cũng đưa Ma trở thành doanh nhân danh tiếng nhất trong những nhà kinh doanh Trung Quốc. Ma được xếp ngang hàng với các vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Trung Quốc. Vào năm 2007 alibaba.com đã thực hiện lần phát hành ra công chúng lớn thứ 2 trong lịch sử các công ty Internet (lớn nhất là Google). Nó đã thu về 1.7 tỉ USD trên thị trường chứng khoán Hong Kong và đạt được giá trị trước cuộc khủng hoảng tài chính là 26 tỉ USD.

Sự nỗi lên của Ma đã là chủ đề cho hàng tá những cuốn tiểu sử và sách kinh doanh. Thân hình mảnh khảnh và chiếc hàm thon của công, và cặp mắt to lồi ra khỏi chiếc trán cao ngay lập tức được mọi người Trung Quốc biết đến. Ma đã tiếp nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng như nói chuyện nhiều lần với Thủ Tướng Ôn Gia Bảo. Có những lúc ông được xem như là thủ thủ tướng tiếp theo của Trung Quốc.

Và một quyền lực mới cũng được Ma tạo dựng. Alipay một phương thức thanh toán trực tuyến giống Paypalra đời, với 50 % thị phần có thể va chạm với hệ thống ngân hàng do nhà nước kiểm soát, vốn không tán thành với những giao dịch không nằm trong tầm kiểm soát của nhọ. Những người tiêu dùng Trung quốc đầu tiên đã chậm chạp trong việc mua hàng trực tuyến đặc biệt là vì hầu hết chưa có thẻ tín dụng, và hệ thống chứng thư của Alipay đảm bảo cho người mua trên trang Web và thế là tạo ra một cuộc cách mạng. Đã có lúc Ma đã làm cho ngân hàng nhà nước khó chịu, thay vì thách thức chính phủ, Ma đã đưa ra một đề nghị khiêm tốn: Nếu như chính phủ có hỏi về Alipay, thì ông sẽ trao lại nó cho chính quyền. Ông không bị nguy hiểm gì thực sự ngoài việc khi mất đi một dịch vụ mà xử lý hơn 100 tỉ USD về giá trị giao dịch vào năm ngoái, phong cách của Ma là không chạy theo tiền. Đề nghị tưởng như vô hại của ông chỉ là một động thái khác trong những bước nhảy cẩn thận của ông với chính quyền, người hoàn toàn có thể thâu tóm một công ty với 1 lệnh trừng phạt. Ma thích nói rằng ông “hẹn hò với các quan chức chính phủ nhưng không tìm kiếm đến hôn nhân”

Carol Bartz, cựu giám đốc điều hành của Yahoo. Ảnh: Internet

Vấn đề ở đây vẫn là khoản đầu tư của Yahoo. Mối quan hệ của Ma với người kế nhiệm của Yang ở Yahoo, Carol Bartz, bắt đầu một cách tồi tệ tại tổng hành dinh của Yahoo vào năm 2009.

Tập đoàn Alibaba không hề giữ bí mật nào trong việc nó sẵn sàng mua lại phần nắm giữ của Yahoo, vốn đã tăng 8 lần về giá trị và có thể sẽ là bước đi khó khăn nhất của công ty trong vòng thập kỉ qua.Và cuối cùng Alibaba cũng lấy lại được lượng cổ phần của mình mà Yahoo nắm giữ.

Jack Ma trong một buổi họp báo về chống hàng giả. Ảnh: Reuters

Giá trị cổ phiếu của Alibaba đã xuống nhanh chóng khi phát hiện sự bê bối về các công ty “Gold Supplier” lừa đảo trên trang web của mình. Một cuộc chiến mới được Ma phát động và đính thân chỉ huy, cuộc chiến lấy lại uy tính của đế chế do Ma xây dựng, “của Caesar hãy trả lại cho Caesar”


Theo Khắc Hiếu (Tổng Hợp) - nhuongquyenvietnam

Bài liên quan:

Friday, June 15, 2012

Người khởi đầu trào lưu “mua chung”

Andrew Mason
[Marketing3k - Ý tưởng] Trong kỷ nguyên công nghệ thông tin thì những “phép màu” không có gì là khó tưởng tượng, nếu như Facebook mất tới 3 năm để nâng giá trị lên 1 tỷ USD thì Groupon chỉ mất 18 tháng.

Ra mắt năm 2010, thành công của Groupon là khởi đầu cho hàng loạt mô hình kinh doanh mới của thương mại điện tử với hơn 100 hãng cung cấp dịch vụ tương tự cùng hàng trăm website “nhái”. Tất cả xuất phát từ ý tưởng của chàng CEO 31 tuổi chưa từng học kinh doanh.

Tỷ phú không biết gì về kinh doanh

Nếu như tỷ phú trẻ Mark Zuckerg trước khi một tay gây dựng Facebook cũng đã học lập trình tại Havard thì Andrew Mason thậm chí không học kinh doanh mà khởi đầu là sinh viên âm nhạc. Sinh ra và lớn lên ở Pittsburg (bang Pennsylvania), Andrew Mason đã theo học Đại học Northwestern University (bang Illinois). Năm 2003, anh tốt nghiệp đại học với bằng cử nhân về âm nhạc. Đàn piano và chiếc máy tính là hai thứ chiếm toàn bộ thời gian của Adrew Mason. Những bài học kinh doanh duy nhất mà Mason học được có lẽ là năm 15 tuổi khi tham gia làm thêm tại cửa hiệu bánh mỳ và đi giao báo hàng sáng thứ bảy.

Thời điểm thay đổi cuộc đời của Adrew Mason là năm 2006, 3 năm sau khi tốt nghiệp đại học và tự mày mò học về lập trình. Chàng nhân viên gõ code của Inner Workings (một công ty thiết kế web tại Chicago) nhận được học bổng theo học chính sách công tại Đại học Chicago. Tại đây, những ý tưởng đầu tiên về xây dựng website được nhen nhóm trong Mason, khởi đầu là ý tưởng có phần gai góc thepoint.com – diễn đàn huy động sự ủng hộ từ xã hội để phục vụ các mục tiêu cộng đồng.

Xuất hiện cuối năm 2007, trang web của Mason được dư luận chú ý bởi những chiến dịch lạ lùng có phần kỳ quặc của những người tham gia, chẳng hạn như 1.000 cam kết sẽ ủng hộ hàng triệu USD chống lại đại dịch HIV ở Châu Phi với điều kiện huyền thoại nhạc rock Bono của nhóm U2 phải giải nghệ hay hàng ngàn người đồng tình xây dựng một mái vòm khổng lồ “che” toàn bộ bang California.

Nắm bắt xu hướng cộng đồng

Tuy nhiên, ý tưởng sáng tạo thú vị thôi là chưa đủ, thepoint.com không thể cầm cự do thiếu vốn và không có nhiều hợp đồng quảng cáo. Năm 2008, thua lỗ nặng nề và Mason phải từ bỏ kinh doanh. Thất bại của thepoint.com lại dạy cho Mason bài học đáng quý về nghệ thuật kinh doanh khi anh nắm trong tay phương tiện mà lại không dùng nó hiệu quả. Mason nhanh chóng nhận ra xu hướng của thời đại mới: tính cộng đồng khi tập hợp số đông để củng cố sức mạnh - nền móng hình thành Groupon.

Không có gì để mất, chàng thanh niên 27 tuổi cùng 7 người cộng sự bắt tay vào xây dựng một trang blog giới thiệu các chương trình khuyến mãi cho các công ty khác và tìm kiếm khách hàng cho họ. Getyourgroupon.com tiền thân của Groupon ra đời. Khó khăn chồng chất khi mà để tìm đủ số khách hàng cam kết với các công ty, Adrew Mason đã nảy ra ý tưởng kết hợp trào lưu mua sắm theo số đông với quảng cáo hình ảnh doanh nghiệp. Được ủng hộ và phản hồi tích cực từ cả người mua phiếu giảm giá và cả nhà cung cấp, trong vòng 6 tháng Groupon mở rộng tới New York, Washington D.C. và thậm chí cả Boston. Đến tháng thứ 7, mô hình này bắt đầu có lãi.

Groupon là nơi các doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực, từ ăn uống, dịch vụ, đến bán các loại hàng... tìm đến để quảng bá thông tin về sản phẩm, dịch vụ và các chương trình khuyến mãi. Groupon gửi thư mời đến những người có điều kiện thích hợp như địa điểm, sở thích, tuổi tác... trong số khoảng 35 triệu người đăng ký nhận thông tin về dịch vụ tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, song tập trung nhiều nhất là ở Mỹ và Canada. Quảng cáo trên website của Groupon hiệu quả tới nỗi Mason cho biết hiện có tới 35.000 công ty đang chen chúc xếp hàng chờ được đăng ký và 1/8 trong số đó là đặt yêu cầu để có mặt trên Groupon.

Mô hình Groupon của Mason được đánh giá là bước đột phá của thương mại điện tử khi phát huy mọi ưu thế, đơn giản, thậm chí tích hợp hoàn hảo với mạng xã hội từ mô hình trị giá 100 triệu USD sau 18 tháng đã được Yahoo đề nghị mua lại với giá 2 tỷ USD.

Chính bởi thành công không ngờ từ ý tưởng độc đáo này, mà có tới hơn 200 website đạo Groupon mọc lên tại Bắc Mỹ; đó là chưa kể tới 500 website “nhái” khác tại nước ngoài (trong đó có tới 100 website từ Trung Quốc). Groupon hiện đã trở thành một cái tên quen thuộc trong lĩnh vực mua hàng trực tuyến, tuy vậy, Adrew Mason đang có những bước phòng thủ cho mình. Chiến lược mà CEO trẻ này thực hiện là hợp nhất các công ty để hoàn thiện dịch vụ cung ứng từ mua sắm trực tuyến, mạng xã hội, phần mềm trên smart - phone cũng như bán Franchise ra nước ngoài.

CEO Adrew Mason không hề tỏ ra nao núng từ chối lời đề nghị mua lại trị giá 2 tỷ USD của Yahoo và tin tưởng sự phát triển và thành công của mô hình mua chung của mình: “Từ trước tới nay không có gì – dù là đài, TV, báo chí, hay bất kỳ phương tiện gì – có thể đem lại số doanh thu lớn cho các công ty nhỏ trong thời gian ngắn như thế”.

Theo Đình Vũ - Thoibaokinhdoanh

Tuesday, June 12, 2012

Vị "thần khởi nghiệp"

Ông Inamori Kazuo
[Marketing - Khởi nghiệp] Chìa khóa bao giờ cũng nằm ở chính thực tế của công việc. Có một vị thần luôn hiện diện ở đó. Hãy kiên nhẫn lắng nghe lời thì thầm của sản phẩm, bạn sẽ thành công...

Inamori Kazuo - người sáng lập và điều hành Tập đoàn Kyocera - là một doanh nhân nổi tiếng của Nhật Bản hiện đại. Không chỉ vậy, sự nghiệp và tư tưởng của ông còn được đánh giá cao cả trên bình diện quốc tế. Cuộc đời ông là những câu chuyện về sự nỗ lực vượt qua số phận và các hoạt động xã hội có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng.

Inamori Kazuo đã viết nhiều sách chia sẻ những kinh nghiệm sống, khởi nghiệp, kinh doanh của chính mình. Tất cả đều được đón nhận như những "cẩm nang" đối với giới trẻ và cả những người đã thành đạt.

Cuốn Cách sống (mới được xuất bản tại Việt Nam) là tập hợp những triết lý mà ông đúc rút từ thực tế gian nan xây dựng công ty của mình. "Quan sát hiện trường" và "lắng nghe lời thì thầm của sản phẩm" - một trong những "bí quyết" thành công được ông chia sẻ trong cuốn sách này - là bài học khởi nghiệp quý giá cho những người mới bước chân vào con đường kinh doanh.

Ông viết:

“Chìa khóa bao giờ cũng nằm ở chính thực tế của công việc. Có một vị thần luôn hiện diện ở đó. Điểm mấu chốt của vấn đề là nắm vững sự việc, quan sát hiện trường, kiên nhẫn lắng nghe lời thì thầm của sản phẩm, bạn sẽ thành công.

Đối với ngành sản xuất chế tạo thì điều quan trọng là phải coi trọng quy trình, xem xét kỹ sản phẩm, thiết bị, nguyên vật liệu, công cụ và đánh giá tất cả một cách khách quan, trung thực...

Sản phẩm của chúng tôi là một loại gốm dùng trong ngành công nghiệp điện tử. Nó được tạo ra bằng cách nén bột kim loại đã oxy hóa vào khuôn và nung ở nhiệt độ cao. Yêu cầu về chất lượng rất khắt khe, không cho phép sai lệch về kích thước dù rất nhỏ, không được có tì vết hay biến dạng dù chỉ chút xíu.

Thời kỳ công ty mới thành lập, khi chúng tôi đưa sản phẩm vào lò nung thử thì cả mẻ gốm bị cong vênh không khác gì mực nướng.

Sau biết bao lần mày mò thử nghiệm, chúng tôi mới tìm ra nguyên nhân là do lực nén khác nhau, mật độ bột kim loại không đồng đều ở mặt trên và mặt dưới khiến sản phẩm cong vênh.

Tuy tìm ra được nguyên nhân về mặt kỹ thuật nhưng điều chỉnh trong thực tế lại vô cùng khó khăn. Sau bao nhiêu suy nghĩ tìm tòi, làm đi làm lại vẫn không được, tôi quyết định đục một lỗ ở thân lò để quan sát tận mắt xem sản phẩm cong vênh như thế nào, biến dạng ra sao.

Và tôi thấy khi nhiệt độ tăng cao thì sản phẩm cứ nhảy lên nhảy xuống như một sinh vật. Nung đi nung lại kiểu nào nó vẫn nhảy như muốn trêu ngươi tôi. Chứng kiến cảnh đó, tôi muốn thò tay vào đè chặt sản phẩm để chúng nằm im.

Đương nhiên chẳng ai điên đến mức đưa tay vào trong lò nung nhiệt độ hàng ngàn độ cả. Khi theo phản xạ định thò tay vào lò “bắt sản phẩm nằm im”, giây phút ấy trong đầu tôi đã lóe lên phương pháp giải quyết. Sau đó, chúng tôi đặt một tấm vỉ bằng chất liệu chịu nhiệt đè lên trên sản phẩm và tiếp tục nung. Kết quả là mẻ gốm đó không còn cong vênh nữa.

Tôi suy nghĩ mãi về việc này. Đáp án thực ra luôn có ở hiện trường. Nhưng để có được đáp án, về mặt tinh thần, chúng tôi phải có quyết tâm “nhất định không chịu thất bại”. Về mặt vật chất, chúng ta phải để tâm quan sát kỹ càng hiện trường, tìm hiểu sự việc.

Quan sát, lắng nghe, tìm hiểu kỹ càng. Có như vậy chúng ta mới có thể nghe thấy “tiếng thì thầm của sản phẩm” và tìm ra phương cách giải quyết.

Có thể cách giải thích của tôi không khoa học, hay nói cách khác là không phù hợp với lối suy nghĩ của người làm công tác khoa học kỹ thuật. Nhưng, thực sự là từ chiều sâu tư duy, sự sắc bén trong quan sát của chúng ta, “sự sống” ẩn náu trong vật chất - các sản phẩm, công cụ sản xuất - đã cất lên "tiếng nói" của chúng.

Từ những khoảnh khắc giao cảm người – vật như thế, chúng tôi đã tìm ra phương án xử lý, hoàn tất công việc, và kết quả là đã tạo ra những sản phẩm “sờ vào là đứt tay”.

Hãy cố gắng, đừng bỏ cuộc, luôn có một vị thần giúp bạn thành công...”.

Theo P.V - DNSG

Saturday, June 9, 2012

Đa dạng hóa: Kiểu gì cũng tốt?

[Marketing - Sản Phẩm] Đa dạng hóa sản phẩm, bước ra khỏi lĩnh vực kinh doanh có nguy cơ khủng hoảng là một hướng đi được nhiều doanh nghiệp áp dụng. Nhưng đa dạng hóa thế nào cho đúng? Đây là một trong những vấn đề lớn của quản trị hiên đại. Làm thế nào để đối mặt với sự thay đổi, để doanh nghiệp ít tổn thương trong khi vượt qua những cơn khủng hoảng?

Thay đổi hay tụt hậu?

Trong kinh doanh, không có ngành nghề nào vững bền mãi mãi. Bất cứ doanh nghiệp nào rồi cũng sẻ phải đối mặt với sự thay đổi của thị trường và có khả năng vĩnh viễn chìm vào lịch sử. Đó là một cuộc sàng lọc khắc nghiệt. Không có ngoại lệ nếu doanh nghiệp không biết cách chuẩn bị cho những thay đổi của thị trường.

Hành động phổ biến nhất để đối mặt với sự thay đổi, đó là đa dạng hóa sản phẩm thông qua công việc R&D (nghiên cứu và phát triển). Chúng ta đã đều biết đến việc Goolge có một phòng nghiên cứu mang tên Google X, nơi những nhà khoa học có thể nghiên cứu và thử nghiệm những ý tưởng điên rồi nhất.

Chúng ta đều biết, những ý tưởng điên rồ đều có thể tạo nên những sản phẩm mang tính cách mạng. Con người có thể bay? Điên rồ! Nhưng rồi máy bay ra đời và trở thành một cuộc cách mạng trong ngành vận tải.

Con người có thể nói chuyện với nhau qua nửa vòng trái đất? Điên rồ! Điện thoại đã hiện thực hóa điều điên rồi này và trở thành một cuộc cách mạng trong ngành truyền thông. Điều đáng nói, mỗi cuộc cách mạnh nổ ra sẽ tạo nên những thương hiệu mới và tạo ra những cơ hội làm giầu mới.

Nhưng mỗi cuộc cách mạng về sản phẩm nổ ra cũng là tiếng chuông cáo chung đối với những doanh nghiệp không theo kịp sự phát triển. Máy chữ là một cuộc cách mạng so với bút viết tay. Nhưng cuộc cách mạng tiếp theo là máy vi tính đã tiêu diệt hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất máy chữ. Kéo theo đó là cái chết của hàng loạt công ty sản xuất máy chữ. Gì nữa, đĩa CD tiêu diệt băng cassette; máy ảnh kỹ thuật số nhấn chìm máy ảnh cơ v.v…

Đa dạng hóa sản phẩm là một trong những cách thức để doanh nghiệp có thể đón đầu những trào lưu mới, tạo nên những sản phẩm mới để doanh nghiệp không bị bỏ lại với tốc độ thay đổi chóng mặt hiện nay. Nhưng nhiều doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm không đúng cách, điều này có thể làm thương hiệu lún sâu hơn vào khủng hoảng.

Thực trạng đa dạng hóa

Đa dạng hóa sản phẩm là một trong những phương thức phổ biến nhất để đối mặt với sự thay đổi. Điều này gần như tuân theo một quy luật cổ điển của Wall Street: “Đừng bao giờ bỏ hết trứng vào một giỏ”.

Nhiều doanh nghiệp hiểu câu nói trên nghĩa là: “Hãy làm mỗi thứ một chút”. Cách hiểu sai lầm! Một trong những ví dụ kinh điển nhất là Sony.

Khởi đầu là một công ty điện tử, Sony đã tham gia hầu như mọi mảng kinh doanh: máy vi tính, chò trơi điện tử, máy nghe nhạc, sản xuất điện ảnh, sản xuất âm nhạc, dịch vụ tài chính, chuỗi cung ứng dịch vụ, ngân hàng, cung ứng nhân lực, hóa chất v.v…

Thị trường trong nước chứng kiến rất nhiều công ty “đa dạng hóa sản phẩm”. Có thể kể ra trường hợp HAGL. Từ một công ty chuyên về đồ gỗ, HAGL lấn sân sang lĩnh vực bất động sản, khu nghỉ dưỡng, thủy điện, cao su...

FPT cũng thêm vào ngành nghề cốt lõi phần mềm của mình một loạt các hoạt động khác như giáo dục, truyền thông, phân phối điện thoại, cửa hàng bán lẻ, tài chính, chứng khoán, ngân hàng…

Thị trường có làn sóng về tài chính, lập tức nhiều công ty mở ra thêm dịch vụ tài chính. Thị trường có làn sóng về bất động sản, lập tức các công ty nghĩ đến việc thêm vào dịch vụ địa ốc v.v…

Đa dạng hóa sản phẩm không phải là một sai lầm. Nhưng cách làm trên đáng tiếc lại là một sai lầm kinh điển. Khi khủng hoảng nổ ra, bất kỳ ngành nghề nào cũng sẽ gặp suy thoái. Công ty có sự tập trung tốt hơn sẽ chịu suy thoái ít hơn. Công ty nào thiếu tập trung sẽ gặp khó khăn hơn.

Không phải ngẫu nhiên khi mới lên làm CEO của FPT, ông Trương Đình Anh đã lên một kế hoạch cắt giảm mạnh mẽ những mảng ngành nghề không hiệu quả. Đây là một hành động đúng về mặt quản trị. Một cái cây chỉ có thể lớn mạnh khi được tỉa bỏ những cành sâu lá mục. Doanh nghiệp cũng vậy.

Người viết không phản đối việc đa dạng hóa sản phẩm. Nhiều công ty hàng đầu thành công với chiến lược đa dạng hóa. Nhưng cách đa dạng hóa của họ khác với phương thức đa dạng hóa mà nhiều công ty nước ta đang áp dụng.

Đa dạng hóa như thế nào?

Đa dạng hóa dòng sản phẩm thường được áp dụng nhất bởi đây là hướng đi có thể mang lại doanh thu nhanh chóng cho doanh nghiệp. Tuy nhiên nó đòi hỏi phải có một chiến lược về thương hiệu đi kèm.

Hai nguyên lý quan trọng trong marketing cần phải được nêu ra ở đây. Thứ nhất, thương hiệu mạnh là thương hiệu chiếm lĩnh được một hình ảnh/sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng. Thứ hai, đa dạng hóa dòng sản phẩm đòi hỏi phải được đi cùng với một hệ thống thương hiệu mới.

Thử nhìn vào trường hợp của tập đoàn Hòa Phát. Ban đầu, Hòa Phát là một công ty chuyên buôn bán các loại máy xây dựng. Nhưng thương hiệu Hòa Phát được người tiêu dùng ghi nhận mạnh mẽ với những sản phẩm nội thất văn phong được làm rất thông minh, gọn nhẹ, linh hoạt. Hòa Phát đã có thể dễ dàng chiếm lĩnh từ “nội thất văn phòng”. Tuy nhiên sau đó Hòa Phát đã thêm vào ngành nghề kinh doanh của mình nhiều ngành nghề khác như thép, bất động sản, két sắt, năng lượng, điện lạnh, thương mại…

Al Ries, nhà quản trị marketing nổi tiếng bậc nhất thế giới hiện nay đã viết: “Thương hiệu có sức mạnh nhưng chỉ trong lĩnh vực kinh doanh mà nó đã định hình trong tâm trí khách hàng. Khi bước ra khỏi lĩnh vực của mình, thương hiệu sẽ mất đi sức mạnh. Càng nhiều sản phẩm được đặt dưới cùng một tên, thương hiệu sẽ mất đi tính tập trung và càng suy yếu”.

Kodak là công ty đầu tiên nghiên cứu và phát triển máy ảnh kỹ thuật số nhưng đã không theo kịp được
 cuộc cách mạng này

Có lẽ Hòa Phát nên tái định vị lại Hòa Phát để chiếm lĩnh từ “nội thất văn phòng”, bởi lĩnh vực này Hòa Phát vẫn là thương hiệu uy tín bậc nhất. Ở những ngành nghề còn lại, Hòa Phát cần phải có những cái tên khác để thể hiện sự chuyên biệt tốt hơn.

Người tiêu dùng ngày càng cần tới sự chuyên môn hóa cao. Chính vì vậy, chiến lược đa dạng hóa sản phẩm cần phải đi cùng với chiến lược đa nhãn hiệu. P&G đã rất thành công trong việc tạo ra hàng loạt sản phẩm chuyên về ngành hàng tiêu dùng. Khi cả thế giới khủng hoảng thì năm 2011, P&G đạt kỷ lục doanh thu 82,6 tỷ USD và đứng ở vị trí số 5 trong danh sách “Những công ty được ngưỡng mộ nhất thế giới”.

Điều đáng nói, P&G sở hữu hàng loạt thương hiệu khác nhau và đó đều là những thương hiệu dẫn đầu hoặc rất mạnh trong ngành hẹp của mình: Tã giấy Pampers, dao cạo dâu Gillette, pin Duracell, kem đánh răng Crest/Oral-B, dầu gội Head & Shoulders , kem dưỡng da Olay, bột giặt Tide, gôm tóc Wella. Họ không chọn tã giấy P&G, dao cạo dâu P&G v.v..
Đa thương hiệu để chinh phục

Việc cố tình níu giữ thương hiệu cũ để đặt tên cho những dòng sản phẩm mới của doanh nghiệp, ngoài làm tổn thương sức mạnh của thương hiệu còn có thể làm mất đi những cơ hội để doanh nghiệp có thể dẫn đầu những thị trường mới với sản phẩm cách mạng.

Máy tính cá nhân là một sản phẩm cách mạng. Người khởi đầu ra dòng máy tính cá nhân chính là Apple với Machitosh? Không phải! IBM đã ra mắt máy tính cá nhân trước Apple, nhưng IBM dùng thương hiệu IBM PC đặt tên cho dòng sản phẩm này. Tại thời điểm đó, IBM đã in sâu trong tâm lý khách hàng là “máy chủ mainframe”. Việc sử dụng tên IBM PC ngoài việc làm nhòa đi khái niệm “máy chủ mainframe” trong đầu khách hàng còn tạo cơ hội để Machitosh vươn lên. Một dòng sản phẩm mới cần một thương hiệu mới, đó là lý do Apple đã không dùng tên Apple Computer cho Machitosh.

Một ví dụ khác cho thấy việc bám giữ thương hiệu cũ là “lợi bất cập hại”, đó chính là trường hợp của Kodak. Kodak là một thương hiệu rất mạnh nhưng giờ đã đệ đơn phá sản. Tình trạng đáng buồn này xảy ra bởi Kodak đã không theo kịp được cuộc cách mạng ảnh kỹ thuật số.

Điều đáng tiếc, Kodak chính là công ty đầu tiên nghiên cứu và phát triển máy ảnh kỹ thuật số. Nhưng có lẽ do mức lợi nhuận và tăng trưởng trong quá khứ đã khiến Kodak không tiếp tục phát triển dòng sản phẩm này. Cho đến khi thị trường xuất hiện một loạt thương hiệu ảnh kỹ thuật số, Kodak mới muộn màng sản xuất máy ảnh Kodak Digital Camera.

Rất tiếc, trong đầu mọi người, Kodak gắn với “ảnh in, máy cơ”. Máy ảnh kỹ thuật số Kodak không xoay chuyển được tình hình. Mọi việc có thể đã không tệ nếu Kodak sử dụng một thương hiệu mới cho dòng máy ảnh kỹ thuật số của mình.

Bài học

Nếu thị trường không thay đổi, doanh nghiệp vẫn đang phát triển thì đó là lúc báo động. Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu những biến đổi, đặc biệt về mặt công nghệ và thói quen người tiêu dùng để điều chỉnh sản phẩm của mình.

Nếu như cảm thấy một sản phẩm/dịch vụ có thể tạo nên một thị trường mới trong tương lai, hãy sẵn sàng nhảy vào, nhưng phải với một thương hiệu mới. Rủi ro là có nhưng trái ngọt lớn vô cùng. Một trường hợp tiêu biểu chính là Apple với iPhone chiến lĩnh thị trường smart phone và iPad chiếm lĩnh thị trường máy tính bảng.

Chiến lược đa dạng hóa sản phẩm luôn cần phải có một chiến lược đa thương hiệu đi kèm. Đó là giấy bảo chứng đương đầu với sự thay đổi hiệu quả bậc nhất.

Theo Hoàng Tùng - DNSG

Monday, June 4, 2012

Bí quyết phát triển sản phẩm mới của 7-Eleven Nhật

Có thể gọi Hirofumi Suzuki (trái) 

là "người sáng lập" 7-Eleven Japan
[Marketing- Sản phẩm] 7-Eleven được thành lập năm 1927 với cái tên “Bán nhanh“, từ ý tưởng của Công ty Southland Ice tại Dalls, Texas (Mỹ). Thương hiệu “7-Eleven“ được sử dụng từ năm 1946 với chủ trương mở cửa phục vụ từ 7 giờ sáng đến 11 giờ đêm.

Từ năm 1991, gần 40% cửa hàng của hệ thống 7-Eleven hoạt động tại Nhật Bản khi Công ty Ito-Yokado mua lại phần lớn hệ thống này từ Southland Corporation (Mỹ). Tháng 10/2005, Công ty Seven-Eleven chuyển từ một tập đoàn sang công ty tư nhân hoàn toàn của Nhật Bản, có tên là Seven-Eleven Japan. Đây là một công ty con của Công ty cổ phần Seven & i Holdings.

7-Eleven Nhật là hệ thống cửa hàng tiện lợi lớn nhất quốc gia này, với số cửa hàng nhiều nhất trên thế giới. Là một nhà bán lẻ, nhưng một trong những bí quyết cạnh tranh và phát triển của 7-Eleven Nhật lại là... phát triển sản phẩm:

1. Nhanh chóng nắm bắt khuynh hướng tiêu dùng

Sau sự sụp đổ của hệ thống kinh tế bong bóng, nhiều khu vực kỹ nghệ bán lẻ đã không thể xác định được sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng. Suốt trong giai đoạn này, người tiêu dùng đã tìm kiểm sản phẩm giá rẻ hơn là quan tâm đến chất lượng. Tiếp theo sau đó là thời của xu hướng mua những loại sản phẩm rẻ hơn, dùng một thời gian ngắn rồi bỏ và thay thế. Các cửa hàng bán đồ giá hạ đã rất phổ biến, tiêu biểu cho kiểu kinh doanh đáp ứng nhu cầu về giá hơn là chất lượng sản phẩm.


Tuy nhiên, năm 1990, thị hiếu của người tiêu dùng bắt đầu thay đổi, họ đã đặt nặng hơn đến giá trị đồng tiền. Nguyên nhân của điều này được cho là vì thu nhập của người tiêu dùng sụt giảm hoặc trì trệ. Người tiêu dùng bắt đầu mua sắm thận trọng hơn và chọn lựa sản phẩm dựa vào giá trị và chất lượng hơn là chỉ dựa vào giá bán. Các siêu thị không nắm bắt được sự thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng theo khuynh hướng tăng chất lượng đã đối đầu với doanh số bán ra thấp. Việc này là do họ đã quen với chiến lược bán hàng giá hời quá phổ biến trong suốt thời kỳ kinh tế bong bóng.

7-Eleven Nhật đã nhanh chóng nhận ra sự có mặt của khuynh hướng xem trọng giá trị hàng hóa này, và đã lựa chọn chính xác sản phẩm và số lượng để bán tại mỗi cửa hàng. Như thế, 7-Eleven Nhật đã thích nghi với sự thay đổi theo thời bằng cách cung cấp những sản phẩm giá trị cao và chất lượng tốt hơn cho khách hàng.

Làm thế nào để 7-Eleven Nhật đã nhanh chóng nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng? Câu trả lời là họ đã có hầu hết những hệ thống thông tin tiên tiến trong kỹ nghệ bán lẻ, theo dõi chặt chẽ sự thay đổi cảm nghĩ của khách hàng bằng cách sử dụng hệ thống POS trong phân tích thời hạn. Nhờ đó, họ nắm bắt nhanh chóng và biến sự thay đổi này thành cơ hội kinh doanh.

Hệ thống thông tin POS sẵn có từ 7-Eleven Nhật là dữ liệu mà các nhà sản xuất muốn có được bằng mọi giá

2. Đưa ra sản phẩm chiến lược

Cơm trưa hộp là sản phẩm rất chiến lược cho tất cả các cửa hàng tiện lợi, vì mỗi cửa hàng tiện lợi có thể dễ dàng phân biệt chính nó với những đối thủ cạnh tranh trong trận chiến thu hút khách hàng nhiều hơn. Theo thống kê của MCR, thức ăn nhanh (cơm hộp, sandwich) chiếm 16,5% của tổng doanh thu của cửa hàng tiện lợi trong năm 1996, và tỷ lệ này đang gia tăng đều đặn. 7-Eleven Nhật bán hơn 200 triệu phần cơm trưa hộp mỗi năm.

7-Eleven Nhật không sở hữu các tiện nghi sản xuất của riêng mình, nhưng họ có chính sách hình thành sự phát triển chung với các nhà cung cấp. Theo đó, họ định hướng sản phẩm cho các nhà cung ứng. Hình thức này được gọi là liên minh giữa sản xuất và các hệ thống bán hàng.

Cơm trưa hộp (lunch box) luôn là sản phẩm chiến lược của 7-Eleven

Hầu hết các nhà cung cấp là vừa và nhỏ, chỉ có một vài nhà cung cấp có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn của 7-Eleven Nhật mà thôi. Hiệp hội Hợp tác xã Thức ăn ngon Nhật được thành lập, nhằm thống nhất những vấn đề then chốt về cải tiến các phương tiện sản xuất, kiểm soát chất lượng và phân phối. Thoạt tiên, các nhà cung cấp chống lại việc tiết lộ bí quyết của họ với các đối thủ cạnh tranh khác, nhưng sau đó họ đồng ý hợp tác với nhau. Kết quả, các nhà cung cấp được hưởng lợi từ những sản phẩm của họ đang được bày bán rộng rãi tại các cửa hàng của 7-Eleven Nhật.

3. Giữ vai trò lãnh đạo trong khi cùng phát triển

7-Eleven Nhật cùng xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm với các nhà sản xuất thực phẩm lớn. Phương pháp này mang lại những hiệu quả to lớn cho cả hai bên:
  • Sản phẩm của các nhà sản xuất được bán rộng rãi trong gần 7.000 cửa hàng trên toàn nước Nhật.
  • Thành quả tiếp thị sản phẩm có được nhờ sử dụng hệ thống tính tiền (POS).
  • Nhà sản xuất có thể tìm kiếm những dữ liệu chủ yếu về khách hàng và thị trường - yếu tố không thể thiếu cho sự phát triển sản phẩm.
  • Trong khi đó, 7-Eleven Nhật có thể bán những sản phẩm mới phát triển này trên cơ sở độc quyền, tạo ra sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh.
  • Giành được thông tin từ các nhà sản xuất trước các đối thủ cạnh tranh khác.
Điểm đáng chú ý nhất là phương pháp cùng phát triển được thực hiện dưới sự lãnh đạo của 7-Eleven Nhật. Vì thế, hầu hết các nhà sản xuất không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Đôi khi sở thích của người tiêu thụ thay đổi nhanh chóng, đó là do sản phẩm độc quyền được phát triển bởi các nhà sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Để phát triển được những sản phẩm bán chạy, không thể thiếu thông tin tiêu dùng hạn định, mà các nhà sản xuất khó có được những dữ liệu này. Nó được cung cấp bởi duy nhất hệ thống thông tin POS sẵn có của 7-Eleven Nhật. Đây chính là lý do giải thích tại sao 7-Eleven Nhật có thể giữ vị trí dẫn đầu trong phương pháp cùng phát triển.

Nguồn: nhuongquyenvietnam
Bài đọc thêm:

Thursday, February 23, 2012

Casino: cỗ máy kiếm tiền hay nơi nảy mầm tội lỗi?

Ảnh minh hoạ
[Marketing3k.vn] Nếu bạn thực sự muốn cá cược hay đánh bạc, thử vận may, sẽ có rất nhiều trò chứ không hẳn lỗi tại "đá gà", "bóng đá", "tennis", hay "đua ngựa", "đua chó", hay casino !

Hành vi phạm tội hay "giết người" là do "súng đạn" hay do "ý đồ tội ác" của con người?

Ở nước Mỹ, người ta thường tranh cãi việc có nên cho phép sử dụng súng cá nhân hay không. Quan điểm ủng hộ việc cho phép sử dụng súng cá nhân, dĩ nhiên là có điều kiện, và các loại vũ khí cá nhân, được cho là cần thiết để tự vệ.

Ví dụ: bạn là phụ nữ, người già, sức khỏe kém, sống một mình nơi thôn quê, sống nơi vắng vẻ, hoặc phải di chuyển trên đường xa vắng ngàn dặm một mình, nếu gặp phải kẻ bạo ngược, kẻ ỉ mạnh hiếp yếu thì phải làm thế nào? Nếu bạn có trong tay một khẩu súng, được cấp phép sử dụng, thì kẻ bạo ngược hay kẻ xâm nhập gia cư bất hợp pháp nói trên chắc chắn sẽ phải dè chừng, hắn sẽ bị trừng phạt nếu có ý định tấn công kẻ yếu hơn.

Ngược lại, quan điểm chống việc sử dụng vũ khí, súng đạn đối với cá nhân thì cho rằng con người không thể kiểm soát hết các hành vi của mình. Nếu để súng đạn rơi vào tay kẻ xấu thì nguy hiểm gia tăng gấp bội. Nhất là các vụ sát nhân hàng loạt đều liên quan đến vũ khí cá nhân, súng ngắn và súng săn.

Tuy vậy, không dễ phản bác quan điểm cho rằng con người một khi đã cố ý, cố tình làm điều xấu, có ý muốn giết người, cướp của thì nếu không có súng đạn thì họ cũng dùng các phương tiện khác như dao, búa, mã tấu, gậy gộc,.v.v. chứ không nhất thiết chỉ có súng đạn là nguyên nhân gây ra tội phạm giết người.

Thực tế vừa qua tại Việt Nam cho thấy, các tội phạm cướp tiệm vàng, giết người dã man đều sử dụng vũ khí thô sơ như dao búa mà pháp luật không thể cấm và các nạn nhân thì không thể lường trước, lại không có vũ khí phòng vệ, nên không có cách chi tự vệ được!

Nói về hành vi "đánh bạc" hay "cờ bạc" thì chúng ta thấy các trò chơi dân gian từ lâu đời tại mọi quốc gia đều có ít nhiều mang tính ăn thua, cá cược hay "cờ bạc".

Điểm qua các trò chơi như "đá gà", "cờ tướng", "tú lơ khơ", "mạt chược", "đua ngựa", "đua chó", "đua thuyền", "vật võ" .v.v. đều mang đậm chất ăn thua, được mất, cá cược, hơn thua trong các lễ hội, thu hoạch mùa vụ cuối năm ... tạo niềm vui cho đám đông dân chúng.

Ngày nay, tại Việt Nam, chúng ta đã công nhận, công khai trò "đua ngựa" và "đua chó" nhưng vẫn xem "đá gà" là "cờ bạc" và tội phạm liệu có công bằng cho trò chơi dân gian này?

Hành vi "đá gà" nếu nhìn ở góc độ "cờ bạc" nghĩa là "ăn thua lớn" làm hủy hại con người, tán gia bại sản, mầm mống của tội phạm khác .v.v. thì khi ta xem các ván "cá cược" ăn thua công khai ở các quốc gia khác như cá cược thể thao bóng đá, đua ngựa, chơi các loại bài ở Casino .v.v. thì "đá gà" ở ta chỉ là trò chơi dân gian có ăn thua ở mức độ không đáng kể!

Vậy còn Casino là gì?

Chúng ta thử xem người Singapore mới cho phép mở hai casino, trong năm 2010 và 2011 đã làm ăn ra sao?

Bảng 1
USD
(Tỉ USD)
2010
2011
Dự báo tăng trưởng
Macau
23.5
30.6
30%
Singapore
5.1
6.4
25%
Las Vegas
5.8
6.2
7%

Họ đã kiếm được khá tiền và trở thành nơi kiếm tiền số 2 thế giới từ loại hình này, vượt qua Las Vegas của Mỹ ngay lập tức ! Đây chính là lý do mà ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ Tướng Singapore - nhà lãnh đạo khai sáng đảo quốc nhỏ bé này, cho rằng một trong các sai lầm lớn nhất trong nhiệm kỳ cầm quyền của ông là từ chối cho mở casino tại nước mình.

Đến nay, Thủ Tướng Lý Hiển Long dường như đã tiếp thu và sửa sai cho cha mình, với hai Casino được mở, mang lại lợi nhuận lớn cho Singapore.

Nhiều người vẫn nghĩ rằng Casino là chỉ có đánh bạc và duy có đánh bạc, là nguyên nhân dẫn đến tán gia bại sản, dẫn đến các hành vi phạm tội khác. Tuy nhiên, quan niệm có thể hoàn toàn khác, nếu ta biết rằng Casino còn là nơi vui chơi giải trí với khu du lịch nghỉ dưỡng (resorts) kết hợp, các trò chơi vui nhộn đáp ứng nhu cầu du lịch, nghỉ ngơi, giải trí, tái tạo sức lao động sáng tạo của cả gia đình!

Còn hành vi đánh bạc đến tán gia bại sản lại thuộc về một phạm trù khác. Tương tự là việc cá cược bóng đá, bạn có thể dễ dàng gọi điện cá cược bóng đá ngay tại Việt Nam mặc dù, hiện tại pháp luật ta chưa cho phép cá cược. Còn việc bạn muốn cá bao nhiêu tiền, có tiêu hết số tiền lương của bản thân hay cá cược luôn gia tài cha mẹ để lại là tùy vào ý chí và ước muốn cá nhân của mỗi người!

Nếu bạn thực sự muốn cá cược hay đánh bạc, thử vận may, sẽ có rất nhiều trò chứ không hẳn lỗi tại "đá gà", "bóng đá", "tennis", hay "đua ngựa", "đua chó", hay casino !

Chính phủ Singapore hạn chế người dân của mình tới Casino bằng vé vào cửa. Dân nước ngoài thì vào thoải mái, nhưng người Singapore thì phải trả tới 200 đô, nên họ phải cân nhắc mỗi khi bước vào!

Tới đây, liệu ta có thể cho rằng vậy "tội lỗi" là do "kẻ sát nhân, kẻ phạm tội" hay do "con dao", "khẩu súng" hay do "đá gà", "đua ngựa" ... hay "Casino" ?

Nếu Việt Nam không có Casino thì Campuchia, Laos rồi sẽ có thêm nhiều Casino nữa. Và dòng người Việt Nam sang biên giới Campuchia hoặc bay sang Macau đánh bạc công khai hay lén lút sẽ vẫn không cấm đoán được!

Nếu chúng ta không công nhận và tổ chức các trò cá cược thể thao như bóng đá một cách rõ ràng, minh bạch thì các sòng bạc chui, các giao dịch cá cược ngầm vẫn đang tồn tại mà không dễ gì ngăn cấm hay dẹp bỏ.

Tốt nhất có lẽ nên nghiên cứu kỹ lưỡng các tác động lợi hại của Casino, không nên thấy khó quản lý mà cấm đoán một loại hình giải trí mà người dân nhiều nước trên thế giới đều có. Thực tế, không phải ai vào casino cũng đánh bạc, mà họ có thể chỉ đi tham quan, nghỉ dưỡng rồi về. Nếu quan niệm Casino hay các trò vui chơi giải trí, thậm chí cá cược thể thao các môn thi đấu là những sân chơi riêng, sở thích riêng của một nhóm người trong xã hội, họ có quyền có nhu cầu chọn loại hình giải trí nào mà họ ưa thích.

Chúng ta không thể quyết thay, nghĩ thay cho người khác, càng không thể cấm đoán nhu cầu thực của một phần nhân loại đang lên tiếng. Không thể ngồi một chỗ rồi cho rằng môn thể thao này hay hơn môn thể thao kia, môn giải trí này lành mạnh, vui tươi hơn môn khác, khu du lịch nghỉ mát này hơn hẳn khu du lịch nghỉ dưỡng khác.

Ngược lại, nếu Casino là loại hình giải trí tiêu tiền cao cấp của riêng giới nhà giàu, đại gia, luôn kén chọn khách sang, thì cũng như các khách sạn sang trọng 5 - 7 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp, sân Golf .v.v. hãy để giới nhà giàu tiêu tiền và nộp thuế, còn nhà nước thì sử dụng tiền thuế cho công việc điều tiết công bằng xã hội.

Hơn nữa các loại hình này sẽ tạo công ăn việc làm cho nhiều nhân công nội địa, góp phần gây dựng ngành công nghiệp và dịch vụ không khói cho đất nước.

Rất nhiều du khách có tiền sang Việt Nam cho nhận xét là chúng ta đang rất thiếu các tiện ích, dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cao cấp đẳng cấp thế giới, ngoài ưu đãi là một bờ biển tự nhiên rất dài và rất đẹp, trong khi đó các cách thức điều hành quản lý du lịch thì vẫn còn nặng nề dáng dấp kinh tế bao cấp thời xa xưa.

Thực tế khác là Singapore đang kiếm tiền tỉ USD ( Bảng 1) từ loại hình du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí kết hợp này, còn tệ nạn xã hội hoặc tội phạm hay không lại tùy thuộc vào khả năng quản lý, điều tiết của các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật.

Tác giả: CẢNH THÁI 
Các bài khác:

Saturday, October 15, 2011

Làm gì để tổ chức mô hình kinh doanh mới?

Những con số và báo cáo tài chính không phải
 lúc nào cũng giúp bạn xây dựng chiến lược hiệu quả
[Marketing3k.vn] Tư duy phân tích là một cơ sở truyền thống trong xây dựng chiến lược doanh nghiệp. Tuy nhiên, chú trọng quá nhiều đến phân tích dữ liệu thường cản trở sự thay đổi.

Kết quả cũng những phân tích dữ liệu thường là những quyết định ngắn hạn, tập trung vào thị trường và khách hàng hiện tại, những đối thủ cạnh tranh hiện tại, cũng như những cải tiến hiệu quả cho những hoạt động hiện tại.

Để xây dựng chiến lược phát triển công ty, bạn cần chú ý đến cả những thị trường và khách hàng tiềm năng, những đối thủ cạnh tranh tiềm năng, cũng như những nhu cầu mới. Nói cách khác, bạn cần suy nghĩ nhiều hơn về tương lai.

Những hoạt động xây dựng tương lai của tổ chức cần được bắt đầu từ loại bỏ một cách có chọn lọc những gì trong quá khứ: những quy cách, lề lối làm việc cũ, không còn thích hợp, hay những nếp nghĩ và giả định không còn đúng trong điều kiện thị trường mới.

Trở lại trường hợp của Infosys trong bài viết trước, trong quá trình chuyển đổi từ một công ty dịch vụ CNTT nhỏ thành một công ty lớn cung cấp dịch vụ trọn gói về tư vấn, thiết kế và triển khai phần mềm doanh nghiệp, họ đã rất thành công trong việc tiếp thu những ý kiến khác nhau. Họ đã tổ chức những cuộc hội thảo riêng với từng nhóm khách hàng hoặc từng khách hàng riêng biệt để có thể đưa ra những dự đoán về thị trường trong tương lai và những ý tưởng về những chiến lược công ty có thể triển khai.

Dựa trên cơ sở đó, Infosys đã tăng cường đầu tư rất lớn vào một bộ phận kinh doanh thử nghiệm để triển khai một dự án cung cấp dịch vụ trọn gói tư vấn, thiết kế và triển khai cho một số chi nhánh ngân hàng tại Ấn Độ. Sau đó, họ đã mở rộng mô hình này ra toàn thế giới.

Ngoài thông tin từ khách hàng, Infosys còn tận dụng rất hiệu quả ý kiến, quan điểm của những nhân viên trẻ. Infosys tổ chức nhóm những nhân viên xuất sắc, họ có điều kiện gặp mặt và tiếp xúc thường xuyên với những lãnh đạo cấp cao nhất.

Khi tổ chức những nhóm này, Murthy, chủ tịch Infosys, đã sử dụng nguyên tắc 30/30: 30% người tham gia còn trẻ hơn 30 tuổi, vì họ còn đầy năng lực sáng tạo và chưa bị ảnh hưởng quá nhiều bởi môi trường văn hóa trong công ty. Invensys đã tổ chức rất nhiều nhóm những nhân viên như thế và qua đó thu thập được ý kiến từ hàng ngàn nhân viên cho những quyết định chiến lược của mình.

Một cách nhìn về hiệu quả công việc

Để duy trì và quản lý hoạt động kinh doanh hiện tại, những công ty thường đánh giá nhân viên qua hiệu quả công việc, phổ biến nhất là qua những tiêu chí: hoàn thành công việc đúng hạn, đúng yêu cầu đề ra, đạt được doanh thu, lợi nhuận dự kiến. Tuy nhiên, để xây dựng những bước đi, thị trường mới cho tổ chức, những nhân viên cần được "tự do" hơn về trách nhiệm và những thước đo hiệu quả công việc.

Ví dụ, trong những năm 1990, IBM khởi động dự án nhằm nâng tốc độ xử lý lên 500 lần. Tầm nhìn của IBM về thế hệ siêu máy tính tiếp theo là không hoạt động trên một bộ vi xử lý cực nhanh, mà hoạt động trên một mạng lưới lớn những bộ vi xử lý thông thường. Ẩn số lớn lúc bây giờ là quan hệ giữa số lượng những bộ vi xử lý trong mạng lưới và sự tương tác giữa chúng. IBM đã thiết kế những thử nghiệm, đi từ đơn giản, thử nghiệm trên 2 bộ vi xử lý, rồi tiến đến 4 bộ, 8 bộ vi xử lý. Những thử nghiệm được thiết kế từ đơn giản đến phức tạp để giảm thiểu thiệt hại nếu như nghiên cứu thất bại. Đến năm 2007, IBM đã thành công trong việc thiết kế siêu máy tính chạy trên 212 992 bộ vi xử lý.

Infosys là một ví dụ khác cho việc tạo dựng thành công văn hóa thử nghiệm, sáng tạo trong tổ chức. Năm 2002, Infosys triển khai một loại hình kinh doanh hoàn toàn mới, Infosys Consulting. Thay vì thiết kế và sản xuất phần mềm theo yêu cầu của khách hàng, Infosys Consulting tư vấn cho khách hàng có thể tổ chức lại hoạt động như thế nào. Thay vì làm việc với những trưởng phòng IT về vấn đề kỹ thuật, những nhân viên của Infosys Consulting trao đổi với lãnh đạo công ty khách hàng về những vấn đề quản lý.

Lãnh dạo Infosys hiểu rằng đòi hỏi những kết quả doanh thu, lợi nhuận có thể dự đoán được cho loại hình kinh doanh này là một điều không hiện thực. Vì vậy, họ áp dụng một quy trình đánh giá và kiểm soát riêng cho loại hình kinh doanh mới. Infosys Consulting thời kỳ đầu không tham gia vào quy trình đánh giá hiệu quả được áp dụng chung cho toàn công ty, mà được đánh giá và điều hành bởi một ban quản lý riêng biệt. Ban quản lý này có trách nhiệm nhìn nhận và đánh giá cơ hội mà Infosys Consulting có thể thành công, nhưng họ không nhất thiết phải đưa ra những dự đoán chính xác về kết quả kinh doanh như những bộ phận khác.

Trong phần tiếp theo của bài viết, chúng tôi sẽ đề cập đến vai trò quan trọng của việc thiết kế hợp lý tổ chức và phân loại ưu tiên mục tiêu dài hạn trong quá trình xây dựng chiến lược.

Theo VeF - GIANG SƠN LƯỢC DỊCH TỪ HBR